Chương 3: Truyện số 85 đến 90
85. — tra án (thứ hai).
Hồ-thành với Phùng-an đồng ở một làng mà có đều thù khích nhau. Cha con Hồ-thành ngang tàng, Phùng-an cũng lòn cúi chơi bời, mà Hồ-thành cũng không lấy làm ưa. Một bữa đồng ngồi uống rượu say, Hồ thành khoe tài, nói lớn lối rằng chẳng sợ chi nghèo, muốn làm giàu nhỏ cũng chẳng khó gì. Phùng-an thấy Thành nghèo mà nói đổng thì cười. Thành làm mặt giận nói rằng: thiệt bữa nọ đi chơi may gặp một lão lái buôn giàu chở hàng hóa đầy xe, tôi giết quách lão đi, tôi bỏ thây lão dưới giếng loạn, tôi có sợ ai mà phòng giấu giếm. Phùng-an cũng cười. Thuở ấy em rể Hồ-thành là Trịnh-luân có gỡi cho Hồ-thành hai ba trăm đồng bạc, Hồ-thành thấy Phùng-an cười liền lấy ra cho Phùng-an coi. Phùng-an thấy vậy mới tin. Mãn tiệc rượu rồi, Phùng-an về nhà lén đi cáo với ông huyện, quan huyện cho bắt Hồ-thành tới cũng khai thiệt; hỏi Trịnh-luân có gỡi bạc, Trịnh-luân cũng chịu có; sai lệ đi tới giếng loạn lập thế dòng một người xuống coi quả có một cái thây không đầu. Hồ-thành thất kinh không đàng chối cải, cứ kêu oan ức mà thôi. Quan huyện dạy đánh vả cùng nói rằng: Việc có bằng cớ rỏ ràng mà còn kêu oan làm sao; liền dạy xiềng rùn Hồ-thành bỏ vào ngục tối, nhứt diện hiểu thị cho các làng ai có bà con bị giết thì tới mà thưa. Cách một ngày có một người đờn bà tới quì đơn nói là vợ người bị giết, chồng nó đi vay của tên Giáp ba trăm đống bạc mà đi buôn bán, Hồ-thành chận đàng mà giết đi. Quan huyện rằng: người chết dưới giếng, e không phải là chồng mi. Đờn bà ấy nói quả quyết là chồng nó. Quan huyện bèn dạy đem thây lên, đờn bà ấy coi quả là chồng mà không dám lại gần, đứng xa xa mà-khóc. Quan huyện dạy rằng: nay đã bắt đặng đứa hung phạm, đã kiếm đặng thây; ngặt còn thiếu một cái đầu, mi phải về đã, ngày nào kiếm đặng cái đầu sẽ đòi tới mà phân xữ. Rồi đó quan huyện cho đòi Hồ-thành, dạy nội ngày mai phải đem cái đầu ra, bằng không thì xiềng rùn lại nữa. Lệ dẩn Hồ-thành đi, tối ngày dẩn về hỏi thì Hồ-thành cứ việc kêu khóc mà thôi. Quan huyện dạy mài gươm đem Hồ-thành đi chém, rồi biểu dẩn trở lại mà nói rằng: có khi đêm hôm mầy lật đật vác thây đi mà rớt đầu lại chỗ nào phải nhớ mà tìm cho ra. Hồ-thành khóc xin huởn cho nó kiếm. Quan huyện hỏi người đờn bà có mấy đứa con? Người đờn bà thưa rằng không. Hỏi chồng nó có bà con đâu chăng? Nó thưa rằng có một người chú họ. Quan huyện than thở nói: Còn nhỏ tuổi mà góa chồng, linh đinh như vậy thì biết làm sao! Người đờn bà khóc xin quan huyện đam lòng thương xót. Quan huyện nói tội giết người thì đã đành rồi, chỉ đợi cái đầu thì án mới tiêu; hễ tiêu án thì lo lập đời khác không can gì. Nhưng vậy con còn nhỏ tuổi chớ ra vào chốn công môn làm chi. Người đờn bà nghe nói khóc lạy tạ ơn mà lui ra. Quan huyện liền tống trát bắt làng phải đi kiếm cái đầu. Qua bữa sau có người đồng thôn tên là Vương-ngủ báo rằng đã được cái đầu. Nghiệm phải đầu, cho tên ấy lảnh thưởng xong xui rồi, quan huyện cho đòi người chú họ tới mà dạy rằng: nay án lớn đã thành, mà cháu nhà ngươi thì không con, người vợ cũng còn nhỏ, không biết làm chi mà ăn, thôi thì cho nó cải giá cho sớm, sau nầy cũng không còn việc gì nữa; như quan trên có bẻ bác, một mình nhà ngươi tới đối chất cũng đủ. Người chú dùng dằng không chịu, quan huyện quở mới lảnh giấy mà về. Người đờn bà hay đặng liền đi tạ ơn, quan huyện phủ uỷ ân cần, lại dặn như có ai muốn cưới thì tới thưa cho mình biết. Người đờn bà lui ra một chặp, liền có người đầu đơn xin cưới nó làm vợ. Hỏi ra thì là Vương-ngủ là người báo chỉ cái đầu người bị giết. Quan huyện cho đòi người đờn bà trở lại mà rằng: đứa giết chồng mi là ai, mi có biết chăng? Dờn bà thưa là Hồ-thành. Quan huyện nói không phải, đứa giết chồng mi quả là mi với Vương-ngủ: tao biết đã lâu, song có ý làm chậm chậm là sợ e còn có chỗ oan; vậy chớ thây chưa đem lên khỏi giếng, cớ sao mà biết chắc là chồng mi, có phải là mi biết trước chăng? Và lại chồng mi chết còn bận áo vãi rách, mấy trăm đồng bạc ở đâu cho có. Quan huyện lại nói với Vương-ngủ rằng đầu để chỗ nào, sao một mình mi biết rõ ràng dường ấy: mi làm gấp như vậy, có phải là có ý lấy nhau cho mau chăng? Hai đứa thất kinh mặt không còn chút máu, cứng họng nói không đặng một lời. Quan huyện dạy tấn cả đôi đều chịu tội.
Số là Vương-ngủ với đờn bà ấy tư thông với nhau đã lâu, lập mưu mà giết người chồng, lại gặp nhằm lúc Hồ-thành nói chơi. Quan huyện tha Hồ-thành; còn Phùng-an thì làm tội vu cáo, đánh đòn, đồ ba năm. Án thành, không có một người phải oan hình.
86. — chim trả thù.
Chùa Thiện-tân có chim séo làm ổ trên chỉ vỉ, tiếng tục kêu là thu kỉ; trên ván bửng có một con rắng lớn, mỗi khi chim vừa đủ lông ra ràng, thì bò ra nuốt hết; chim mẹ buồn kêu ít ngày rồi bay đi mất. Ai nấy không dè nó trở lại nữa, té ra năm thứ ba nó lại tới mà làm ổ như trước. Con nó vừa lớn lên, nó liền bay đi, ba bữa mới trở về, vào ổ kêu còn mà cho ăn. Con rắn lớn ấy cứ việc bò ra, vừa động ổ, hai con séo thất kinh kêu la thảm thiết, bay bổng lên trên mây xanh. Một hồi nghe tiếng ào ào, trời đất tối tăm, ai nấy sợ hãi, ra coi thì thấy một con chim lớn, kiến sè che mất mặt trời, ở đâu trên không ùn ùn liện xuống như dông, đánh một bấu con rắn đứt đầu, phá gia thu tan nát rồi chớp kiến bay đi, hai con séo bay theo sau đường như làm lễ đưa. Phá ổ rồi, hai con séo con té xuống, một con sống một con chết, thầy chùa bắt con sống để nuôi trên lầu chuông; giây lâu hai con séo lớn trở về cho ăn như cũ, đến khi con nó bay được, liền đem nhau đi mất.
Sách dị sữ bàn rằng: năm sau còn tới là chẳng dè có họa nữa; năm thứ ba cứ việc làm ổ chỗ cũ, thì kế báo thù đã sắp rồi; ba ngày không trở về, thì chắc là đi khóc bên Tần đình. Chim lớn ấy thì là tiên gươm, thình lình bay tới, đánh một cái rồi lại bay đi, diệu thủ không không (tay phép không không) có gì hơn nữa.
87. — chim hồng.
Đất Thiên-tân có một người đánh bẩy đặng một con chim hồng, con chim trống bay theo cho tới nhà, bay lên đáp xuống kêu la tối ngày rồi mới bay đi. Sáng ngày, người đánh bẩy dậy sớm đi ra ngoài đồng thì thấy con chim trống bay tới rồi, và kêu và bay theo đậu một bên chơn, người ấy liền chụp mà bắt nó luôn. Chẳng dè con chim nghểng cổ mữa ra nữa thoi vàng, người đánh bẩy hội ý, nói trong mình rằng thế nó đem vàng chuộc vợ, bèn thả con chim mái. Hai con chim bồi hồi, chẳng khác nữa mầng nữa sợ, rồi đem nhau bay mất. Người đánh bẩy cân vàng được hai lượng sáu có dư. Ấy chim muông biết gì, mà có tình với nhau dường ấy, có phải trong sự tử biệt sanh ly, người ta cũng vậy chăng!
88. — chuyẹn voi.
Đất Hồ-quảng có tên thợ bắn, cắp ná vào núi, mệt nằm ngủ quên dọc núi, thoát chốc có một thớt tượng tới thò vòi bắt cả người cả ná bỏ lên trên lưng mà đi. Tên thợ bắn sợ hết hồn, chắc mình phải chết; té ra nó đi một đỗi tới cây cao lớn, nó để y ngồi dưới gốc cây rồi, nó cúi đầu rống lên một tiếng, voi bầy chạy tới vây xung quanh, làm như muốn cậy sự gì. Còn thớt tượng lớn thì quì xuống ngước mặt ngó trên cây rồi lại ngó xuống tên thợ dường như biểu leo. Tên thợ hội ý bén đạp lưng thớt tượng, vịn cây mà trèo lên ngồi tại cháng ba. Một hồi, có một con hạm chạy tới, mấy chục thớt tượng đều nằm nép xuống. Con hạm lựa một thớt mập, hòng bắt mà ăn, tượng sợ sệt đều ngó lên trên cây dường như cầu cứu. Tên thợ kéo ná bắn một phát trúng nhằm chỗ nhược con hạm chết ngay. Bao nhiêu thớt tượng đều nhảy mầng múa lạy. Tên thợ trèo xuống, thớt tượng trước cũng quì xuống kề lưng, thò vòi kéo áo biểu cỡi. Tên thợ cứ việc cỡi, thớt tượng bèn đem đến một chỗ, lấy chơn moi lên, thấy ngà chôn vô số. Tên thợ nhảy xuống đem ngà lên, kiếm dây bó buộc lại xong xã, thớt tượng chở hết lên lưng, đưa ra khỏi núi mới trở lại.
89. — chuyẹn tên ất.
Tên Ất vốn là quân tử ngồi rường, người vợ lấy làm sợ hãi, thường khuyên chồng giãi nghiệp. Tên Ất nghe lời chừa nghiệp cũ, ở vậy ba năm nghèo khổ chịu không nổi, tính phải đi làm dữ một chuyến nữa rồi hãy thôi dứt, bèn giả chước đi buôn, tới thầy bói hỏi hướng nào khác. Thầy bói nói phía đông nam có lợi, mà lợi cho tiểu nhơn, bất lợi cho quân tử. Tên Ất nghe thầy nói nhằm ý, mầng thầm, bèn đi qua hướng nam, tới đất Tô-tòng, ngày ngày dạo chơi ngoài làng hạnh, cho tới một đôi tháng. Một bữa y vào chơi trong chùa, thấy bên góc tường có hai ba chống đá, y lấy làm lạ, cắc cớ lấy một hòn đá chồng thêm rồi bỏ ra đàng sau tháp nằm chơi. Trời vừa tối xảy nghe tiếng nói chào rào, độ chừng hơn mười người, có một người chạy lại đếm đá nói sao có dư, đem nhau ra sau tháp thấy Ất nằm trơ, hỏi: chú chất đá thêm phải không? Ất chịu có; hỏi làng quán tên họ, Ất kiếm đàng nói dối. Khi ấy nó bèn giao binh trượng cho Ất, biểu đi theo, tới một tòa nhà giàu, chúng nó bắt thang leo qua tường mà vào, chê Ất bợ ngợ mới tới, bắt ở ngoài tường mà giữ đồ. Một hồi nó quăng ra một gói, rồi lại dòng xuống một cái rương, Ất biết trong ấy có đồ, bèn bẻ khóa tóm thâu đồ quí dồn vào một bao, mau mau vác chạy đi, tìm đàng về nhà. Ất nhờ vốn ấy bèn cất nhà lầu, mua ruộng đất, lo cho con vào học sanh, quan sở tại cấp cho một tấm biểng đề hai chữ Thiện sỉ treo trước cữa lầu. Sau phát án, mấy đứa ăn cướp đều bị bắt, Ất nhờ không ai biết tên họ làng quán, khỏi tội. Việc qua rồi lâu lắc, Ất say rượu mới nói chuyện cũ, chẳng đè có ba thằng ăn trộm rình nghe đặng, leo tường vào bắt anh ta trói lại, khêu đèn chai vào rún mà hỏi của, bao nhiêu vàng bạc anh ta phải tuôn ra mà chuộc mạng.
Ấy là Hoạnh tài bất phú. Của phi nghĩa mình hưởng được thì là không có đạo trời.
90. — chuyện tên giáp.
Có tên dân nghèo, gần mãn tháng chạp, trong mình không có manh áo cho lành, nghĩ qua tết-nhút lấy chi mà ăn mặc, lén vợ vác một cây hèo ra núp xó mả, chờ có ai đi lẻ bọn, chận mà ăn cướp. Hồi lâu thấy một người lom khom đi tới, anh ta vác hèo chạy ra, thì là ông già vác bao gạo đứng xó ró bên đàng, nói nội mình không có giống gì, chỉ có năm ba cân gạo mới xin bên thằng rể đem về ăn đở đói. Tên Giáp không nghe, giựt bao gạo, lại muốn lột cái áo rách của ông già, ông già năn nỉ lắm mới thôi. Giáp vác gạo về, vợ hỏi gạo ở đâu? Giáp nói dối rằng gạo người ta tụi tiền cờ bạc, chớ gạo ở đâu! Giáp nghĩ chước ấy hay, ngày sau lại ăn quen đi nữa, hồi lâu thấy một người vác đoản côn cũng tới tại gò mả, ngồi chồm hổm ngó mông, coi ý cũng là một người đồng đạo. Giáp thụt lui trở ra, tên kia thất kinh hỏi ai vậy? Giáp nói là người đi đàng. Hỏi sao không đi? Giáp nói tôi đợi anh. Tên kia cười. Hai đàng hiểu ý nhau, nói chuyện nghèo khổ. Canh khuya không đặng vật gì, tên Giáp buồn ý muốn về. Tên kia nói: anh đi làm nghề, mà coi ý còn quê, xóm trước kia có nhà gả con lấy chồng, dọn dẹp cả đêm, lẽ nào cũng mỏi mệt; thôi anh theo tôi, có được sẽ chia đôi. Giáp mầng đi theo tới cữa ngỏ, cách vách nghe nấu bánh, biết trong nhà chưa ngủ, rình bên vách. Một chặp có người mở cữa đi gánh nước, hai người lẻn vào, thấy đèn leo lét để đàng phía chái, nhà trong thì tối đen. Một người đờn bà nói: con hai chịu khó đi coi nhà trong, đồ đạc con để trong rương, không biết đã khóa chưa. Nghe tiếng con gái nhỏ nhỏ, nói giọng chả chớt, làm biếng, hai người mầng thầm, ẩn bóng chạy vào nhà trong, mò nhằm cái rương, dở nắp thăm coi nghe ra sâu hóm. Tên kia nói thầm, biểu Giáp chun vào lấy được một gói đưa ra. Tên kia hỏi còn hết? Giáp nói hết. Tên kia gạt Giáp, biểu mò nữa, sẽ lén đậy nắp rương khóa lại rồi bước rảo đi mất. Giáp ở trong rương lún túng một hồi, thấy đèn sáng giọi vào, nghe một người đờn bà nói: ai đã khóa rồi. Hai mẹ con đem nhau lên giường, tắt đèn mà ngủ. Giáp lục đục không biết làm chước gì mà ra cho khỏi, mới giả làm chuột cạp sột sột trong rương, đứa con gái nghe, kêu mẹ nói trong rương có chuột. Người mẹ nói: tao mệt quá, mầy phải đi coi kẻo nó cắn hết áo quần mầy. Đứa con gái chò dậy lấy khóa mở rương, Giáp ở trong rương chờn vờn nhảy ra, đứa con gái hoảng kinh ngã ngữa. Giáp rầm chạy đại, dầu không đặng chi mà cũng mầng khỏi họa. Nhà gái bị ăn trộm đồn ra, có kẻ nghi cho Giáp. Giáp sợ trốn đi xứ xa, ở với nhà giàu làm thuê mướn; việc nguôi hoai rồi mới dám trở về làm ăn, bỏ nghiệp du côn.
Chưa có bình luận
Hãy là người đầu tiên nói cảm nhận về chương này.