Chương 4: Truyện số 91 đến 97
91. — bói tiền.
Tên Hạ-thương là người Hà-giang; cha ở Đông-lăng giàu có lớn mà hay xa xí, già lại, nhà nghèo không có mà ăn cho no, đến khi gần chết nói với con rằng: thuở trai tao hủy hoại của đời, làm cho quỉ giận thần hờn, phải đói lạnh mà chết, con phải lo làm phải mà chữa lỗi cha. Hạ-thương vâng mạng cha, ăn ở thiệt thà, chuyên lo cày cấy, trong làng ai nấy đều thương vì. Có một ông nhà giàu thấy Thương nghèo, giúp vốn biểu học nghề buôn. Thương làm mất vốn, xấu hổ xin ở mướn mà thường, ông nhà giàu không cho, Thương áy náy không yên, bán hết nhà ruộng lấy tiền đem qua mà trả. Ông nhà giàu dọ đặng sự tình, lại càng thương xót, ép phải chuộc lại, lại giúp vốn thêm biểu đi buôn. Thương nói có mấy chục quan tiền mà trả không nổi, có đâu lại gây nợ lừa ngựa đời sau. Ông nhà giàu kêu tay buôn quen thuộc, cập nải với Thương, ít tháng trở về tính vừa khỏi lỗ. Ông nhà giàu không ăn lời, biểu đi nữa; Thương đi buôn hơn một năm, trúng lớn, mãn tải mà về, đi dọc sông bị bảo ghe chìm, hàng hóa mất hết nữa, còn nữa thì đủ trả nợ. Thương mới nói với tên buôn thuộc rằng: Trời làm nghèo, ai cứu cho đặng, ấy là tại tôi mà hại lây tới anh. Thương bèn tính sổ giao cho tên buôn thuộc, từ giả mà về. Ông nhà giàu biểu nữa, Thương không dám, cứ việc cày bừa như cũ, thường than thở mà nói rằng: người ta ở đời cũng phải có hồi khá, làm sao mình lại phải chìm đắm dường ấy. Xảy hiểu biết số vận, đoán không sai. Thương đi bói, chẳng dè là một bà già mướn quán sạch sẽ, giữa đặt bàn thần, đốt hương tối ngày. Thương vào lạy rồi, bà già hỏi một trăm đồng tiền, lấy bỏ vào ống gổ, tay cầm ống quì xuống xóc xóc như xóc xăm, rồi chờ dậy trút tiền ra sáp lớp trên bàn. Phép bói, hể ngữa thì xấu, sấp thì tốt; té ra ngữa hết 58 còn bao nhiêu thì sấp. Bà già hỏi niên canh. Thương nói 28 tuổi. Bà già lắc đầu nói: chưa được, nhà ngươi chịu cực bây giờ thì là vận người khuất mặt, đến 58 tuổi mới là vận nhà ngươi. Hỏi vận người khuất mặt là làm sao? Bà già nói cha làm lành, phước chưa hết thì con hưởng; cha làm chẳng lành, tội chưa hết, con phải chịu. Thương đánh tay nói như đợi 30 năm nữa thì già cả vô hòm rồi. Bà già nói từ 58 tuổi trở lui cũng có năm năm khá, làm đủ ăn khỏi đói lạnh, đến 58 thì tự nhiên được vàng bạc nhiều không phải tìm kiếm; nhà ngươi ở đời không làm đều bạc ác, thì đời sau hưởng phước không cùng. Thương nữa tin nữa nghi về nhà cứ giữ phận nghèo làm ăn, không dám làm đều quấy quá. Chừng được 53 tuổi, Thương có ý để mà coi vận mạng, nhằm mùa ruộng, đau nặng cấy không đặng, đến khi mạnh thì trời hạn mạ khô. Qua thu trời mưa, nhà hết giống sớm, mấy mẩu ruộng Thương đều cấy lúa mùa; trời hạn nữa, đậu mè chết, mà lúa mùa không hệ gì; sau mưa dào bông trái tốt, năm sau khỏi đói. Thương mới tin bà thầy bói, qua ông nhà giàu vay tiền về cho góp nhỏ té lời đủ ăn. Đến năm 57, Thương trét vách đất, đào chưng vách được một khạp bạc cân được 1325 lượng, trong ý chê bà thầy bói nói còn sai. Có một người đờn bà lối xóm tới chơi, ngó thấy bạc về học lại với chồng; người chồng ganh gổ đi mách với quan huyện. Quan huyện cho thám bắt Thương hỏi bạc; vợ Thương muốn giấu phân nữa, Thương nói của được thinh không, để lại thì nó làm hại, bèn nạp hết. Quan huyện nghi còn giấu giếm, đòi cả cái thạp bỏ bạc vào đầy thạp mới cho Thương về. Chẳng khỏi bao lâu, ông huyện thiên nhậm ấp Nam-xương, năm sau Thươug đi buôn qua đó thì quan huyện chết rồi, vợ con khiến về xứ sở, bán hết đồ nặng. Có mấy chục lu dầu, Thương thấy rẻ mua hết đem về, tới nhà có một lu chảy, sang lu khác được ba nén bạc, coi mấy lu khác cũng có, Thương bán hết, xảy phù hiệp số bạc đào được ngày xưa. Thương từ ấy làm giàu lớn, hay làm phước bố thí cho người bần cùng, vợ biểu phải dành để cho con cháu, Thương nói ấy là để cho con cháu. Tên đi mách buổi trước, nghèo khổ ra thân ăn mày, muốn tới xin mà sợ xấu hổ. Thương hay được nói với nó rằng: việc ngày trước là tại số vận tôi xui cho quỉ thần mượn tay chú làm cho hư hại, không phải là tại chú; Thương châu cấp cho nó nhiều, lân lý thấy vậy đều cảm phục. Thương sống 80 tuổi, con cháu đầy nhà, nối nghiệp lâu dài không suy.
92. — mẹ chồng đổ tội cho nàng dâu.
Đất Thái-nguyên, nhà dân có mẹ chồng nàng dâu đều ở góa. Mẹ chồng mới nữa đời người không hay giữ tiết, trong làng có đứa mất nết tới lân la. Nàng dâu ghét, lập thế ngăn ngừa; mẹ chồng giận, kiếm chước đuổi nàng dâu. Nàng dâu đã không chịu đi mà lại cố ý kình chống. Mẹ chồng giận lắm bèn đi thưa gian, nói nàng dâu đem trai về nhà. Quan hỏi tên họ thằng gian phu. Mẹ chồng nói: tối nó tới, sáng nó đi, không biết nó là ai, xin tấn con dâu tôi thì biết, Quan cho đòi nàng dâu, nàng dâu chỉ danh nói quyết cho mẹ chồng. Quan cho bắt gian phu tới, nó chối dài rằng không có chuyện gì với ai cả, nói là tại mẹ chồng, nàng dâu không ưa nhau, kiếm đều nói xấu cho nhau. Quan dạy rằng: trong một ấp có dư trăm người, cớ sao người ta nói cho mi mà thôi. Quan dạy đánh, tên gian phu lạy lục, chịu có hòa gian với nàng dâu. Quan huyện dạy đóng tróng nàng dâu, nàng dâu kêu oan, quan huyện đuổi đi. Nàng dâu giận lắm đi kiện tỉnh, việc cũng lôi thôi không quyết bề nào.
Thuở ấy có ông tấn sĩ họ Tôn làm tri huyện Lâm-tấn, quan tỉnh giao vụ kiện ấy cho quan huyện tra. Tiên bị tới nơi, quan huyện hỏi sơ qua, dạy đem giam ngoài trại, rồi bắt quân lệ đi kiếm đá gạch, dao phay, để ngày mai mà tra. Ai nấy đều nghĩ rằng: đồ hình ngục chẳng thiếu món gì, cớ chi phải dùng đồ ngoại. Sáng ngày ông Tấn-sĩ ra khách, dạy đem đá gạch, dao rựa lên nhà khách; đòi mỗi người hỏi sơ qua, lại nói với mẹ chồng, nàng dâu rằng: vụ kiện nấy không phải tra làm chi cho lắm, nay dầu chưa biết ai gian, nhưng vậy đứa gian phu đã chắc rồi, mẹ con nhà mi vốn là nhà tiết hạnh, chẳng qua là mắc mưu đứa gian dỗ dành, tội tình chi đều về đứa gian chịu. Kìa dao phay, đá gạch sẳn sàng, hai mẹ con muốn quăng, muốn ném, muốn chém, muốn đánh thế gì mà giết thằng gian phu, ông cho mặc ý. Mẹ chồng, nàng dâu dùng dằng sợ rủi phải thường nhơn mạng. Ông Tấn-sĩ nói: có ông làm chứng, chớ lo chi. Hai mẹ con chờ dậy chạy lại đống đá; nàng dâu tích giận lâu ngày, hai tay rinh hòn đá lớn mà ném, muốn quăng một cái cho chết mới đã giận. Mẹ chồng lượm đá nhỏ nhỏ, quăng nhẹ nhẹ dưới bắp vế, dưới chơn thằng gian phu. Ông Tấn-sĩ lại dạy vác dao phay xốc vào mà chém, mẹ chồng thụt lui. Ông Tấn-sĩ biểu thôi, nói rằng ai gian ông biết rồi, dạy bắt mẹ chồng đem ra tấn, nó liền xưng ngay, án ấy mới thanh.
93. — tham thì thâm.
Lý-sĩ-Hoành vâng mạng đi sứ Cao-ly, ngươi Dư-anh làm phó sứ, bao nhiêu lễ vật người ta tặng, Dư-anh giành lấy một mình, Sĩ-hoành không thèm ngó tới. Lúc xuống thuyền, thuyền phá nước, Dư-anh lại lấy đồ Si-hoành để xuống dưới, còn đồ đạc của mình thì chất lên trên. Chạy một hồi nổi dông, thuyền muốn úp, chủ thuyền xin bỏ đồ cho nhẹ thuyền, hối bạn khuân đồ quăng xuống biển. Trong cơn sảng sốt không chừa đồ ai, đồ nào ở trên thì ném trước, đến khi thuyền nổi lên vững vàng, coi lại thì đồ Dư-anh không còn một món.
94. — thợ may.
Đời vua Gia-tịnh đất Kinh-sư có một tên thợ may khéo có danh trong thuở ấy: áo nào tới tay y cắt thì dài vắn rộng hẹp, mặc vào làm sao cũng vừa. Có quan ngự-sữ đòi tới cắt áo viên lảnh, tên thợ may quì hỏi quan ngự-sữ nhập đài đã bao lâu. Quan ngự-sữ nói: thợ may hỏi làm chi tới đều ấy. Tên thợ may thưa rằng: các ông mới làm quan đắc ý mặt ngữa, ức cao, hồi đó áo phải sau vắn trước dài; làm quan đặng nữa chừng, ý khí hòa bình, thì vạt trước vạt sau phải bằng nhau một cở; đến khi làm quan lâu, muốn thiên nhậm, thì trong lòng có đều muốn cầu, mặt mày ngó xuống, áo phải trước vắn sau dài. Nếu kẻ tiểu nhơn không biết các ông làm quan lâu mới, thì chẳng lẽ may cho xứng.
95. — chuyện một người lo làm quan.
Đất Bảo-định có một người muốn làm tri hnyện, sắm sửa tiền bạc tính đi qua kinh đô mà lo, chẳng dè xán bịnh đau hơn một tháng không dậy được. Một bữa, người nhà vào nói có khách tới, người ấy quên đau chạy ra tiếp khách, thấy khách ăn mặc sang cả, rước vào nhà hỏi thăm. Khách nói mình hầu gần ông hoàng tử thứ mười một, nghe cậu lo làm tri huyện, như cậu dốc lòng chịu tốn, thì thà lo làm tri phủ chẳng là hơn. Người ấy khiêm nhượng nói ít tiền, người khách nói không can chi, cậu lo phân nữa, còn bao nhiêu để tôi giúp cho, đáo nhậm rồi cậu sẽ thối lại. Người khách lại nói: bây giờ có phủ Chân-định khuyết, phải lo cho mau. Người ấy chê ở đồng tỉnh. Người khách cười nói vụ có anh hai chẳng vụ chi xa gần. Người Bảo-định đương lưởng lự, người khách nói: cậu chớ nghi nan, tỏ thiệt với cậu, dưới âm-phủ khuyết một vị Thành-hoàng, số cậu không còn sống nữa, tên cậu đã đăng quỉ lục (nghĩa là đã đem vào bộ quỉ) cậu phải lo cho kíp, hoặc có lẽ xuống âm-phủ mà được vinh, ba ngày nữa tôi sẽ trở lại. Người khách nói rồi liền lên ngựa mà đi mất. Người Bảo-định mở mắt từ giã vợ con, biểu đào tiền chôn mua giấy tiền vàng bạc, mua hình-nhơn, nộm giấy đốt luôn ba ngày đêm. Cách ba bữa người khách tới dắc đi đến chỗ lầu đài, người Bảo-định ngó lên thấy một ông quan lớn, quì lạy rồi, quan lớn hỏi sơ tên họ, khuyên phải thanh liêm cần thận mấy lời, soạn cấp bằng ra đòi vào trước án mà trao. Người Bảo-định lảnh cấp bằng lui ra, nghĩ lại vốn mình hèn hạ, nếu chẳng sắm áo mảo, xe ngựa, vỏng lọng, đòi hầu hạ cho rỡ ràng, thì e dân sự nó dễ ngươi. Sắp đặt vừa rồi liền có lổ bộ bên Chân-định sang rước, quân lính đỏ đường, anh ta lấy làm khoái ý. Thoát chúc nghe đạo tiền xếp cờ, nín tiếng trống, quân lính nép hai bên đường, nói có Quan-đế đi tới, anh ta cũng xuống xe khép nép bên đàng. Quan-đế hỏi ai, các quan hầu thưa rằng phủ Chân-định. Quan-đế quở nói phủ Chân-định mà nghi vệ tới chừng ấy? Anh ta nghe quở tháo mồ hôi hột, mình nhỏ lại bằng đứa con nít sáu bảy tuổi. Quan-đế dạy phải chờ dậy chạy theo, tới một kiểng chùa lớn, Quan-đế vào chùa ngồi bên hướng nam, dạy lấy mực bỏ ra, biểu anh ta biên tên họ hương quán, anh ta viết rồi hai tay cầm đưa lên. Quan-đế coi liền nổi giận rằng: dốt nát viết không nên một chữ, tài cán chi mà trị xả dân. Quan-đế dạy tra bộ đức tính, thấy một người hầu gần quì xuống tâu nhỏ nhỏ không nghe được. Quan-đế thạnh nộ dạy rằng: tội mua quan dầu nhẹ, tội bán quan chẳng nhẹ đâu. Xảy thấy ông thần bận giáp vàng bị chúng xiền lại dẩn đi. Còn hai người lại bắt anh ta lột áo mảo, đem ra đánh năm chục roi lở đít, đuổi ra khỏi cữa. Anh ta ra ngó quanh quất, xe ngựa đi đâu mất hết, rán bò về nhà, sực tỉnh lại dường thể chiêm bao, nằm rên trên giường. Người nhà chạy vào hỏi, anh ta chỉ nói đau hai bên bàn tọa.
Số là anh ta nằm mê như chết đã bảy ngày đêm, bữa ấy sống lại, bịnh một ngày một giảm, song hai bàn trôn lở ra nữa năm mới lành. Người ấy than rằng: lo làm quan hết gia tài, mình lại phải đòn, xấu hổ đã đành, ngặt con hầu non mình mới sắm, không biết ai đem đi đâu mất!
96. — tôn tất chấn.
Ngươi Tôn-tất-Chấn đi đò, rủi trời nổi dông, sóng dồi đò muốn chìm, người trong đò đều sợ hãi. Xảy thấy một ông thần bận giáp vàng đứng trên mây, tay cầm một cái bảng chữ vàng, trở bề chữ cho ai nấy coi, đề rõ ràng Tôn-tất-Chấn ba chữ. Ai nấy gọi Tôn-tất-Chấn nói: chú thấy không, trời hành chú đó, chú phải sang đò khác kẻo lây tới vuối tôi. Tôn-tất-Chấn chưa kịp nói, mấy người dưới đò nóng nảy, ngó bên đò có một chiếc ghe nhỏ đi gần, xúm lại bắt quách anh ta, xô đùa qua đó. Tôn-tất-Chấn qua ghe nhỏ vừa rồi, ngó lại thì chiếc đò ấy chìm mất.
97. — địa lý.
Thầy Châu-hy là danh nho đời Tống, đứng vào hàng năm thầy, là Châu-mậu-thúc, hiệu là Liêm-khê, Trình-minh-Đạo, Trình y xuyên, Trương-tử-Hậu, hiệu là Hoành-cừ, Châu-hối-im ấy là thầy.
Thuở thầy còn làm tri huyện tại Hà-dương, trong huyện xả dân hay tin phong thủy, hay kiện giành đất mả, đến đỗi có kẻ đào trộm mả người ta lấy cốt đi, đem cốt ông bà mình mà chôn xuống, chĩn biết địa lý, không biết Thiên lý; nhà giàu cứ hiếp nhà nghèo, có kiện tới quan, chẳng luận phải quấy, làm sao nhà giàu cũng đặng kiện, nhà nghèo cất đầu chẳng nổi. Các ông huyện trước nhơn nhu, vị nhà giàu, hoặc ăn của nhà giàu, mà xử lún cho nhà nghèo.
Tới lúc thầy Châu đáo nhậm, nghe việc tình tệ, thì lấy làm bất bình, dốc lòng sữa phong tục, làm cho ai nấy đều nhờ một phép công bình.
Hễ nhà giàu, nhà nghèo có kiện thưa, thì người thường xử hiếp nhà giàu, kêu là tả phú, hữu bần, nghĩa là bỏ giàu binh nghèo, nhiều người lấy làm đắc sách.
Trong hạt có đứa ở mướn làm đất cho nhà giàu, dòm thấy đất nhà giàu huợt, lại nghe là đất hưng vượng, làm được huyệt mả thì con cháu sẽ phát, nghĩa là sẽ được sang giàu. Nó bèn mạo giấy nói là đất ông bà nó, tên nhà giàu ỷ thế chiếm cứ làm cũa mình.
Nó phát đơn đi kiện, ông Châu không hỏi đầu đuôi, thấy nó nghèo, bèn xử cho nó đặng đất, nhà giàu phải chịu thua.
Đến lúc người thôi làm quan, về Bạch-lộc-động dạy học trò, nghe tên nhà nghèo lấy cốt ông bà đem chôn tại chỗ đất, người mới đi coi cho biết làm sao là hưng vượng. Tới nơi thấy miếng đất đắc thế, tả thanh long, hữu bạch hổ, trên có huyền vũ, dưới có lệ tuyền, quả là long mạch, người mới than rằng: thữ địa nhược phát, thị vô thiên lý; thữ địa bất phát thị vô địa lý. Thích nôm: đất nầy bằng phát, thì nghịch lẽ trời; đất nầy không phát, thì chẳng nhằm phép địa lý.
Ông Quách-phát là người đời Tấn, học hành giỏi, thông việc bói khoa, coi huyệt mả có tài. Tấn-nguyên-Đế định đô Kiến-nghiệp, thường dạy ông ấy bói đâu nhằm đó. Đến khi ông Quách-phát về ưu tang mẹ, thôi làm quan, thường coi huyệt mả cho người ta. Nguyên-đế nghe Quách-phát xây huyệt mà theo hình long giác, bèn giả dạng vi phục, tới tại mả mà coi, nói với chủ nhà rằng: ấy là long giác, phép phải giết cả họ. Chủ nhà nói Quách-phát có nói: Thử thị long nhỉ, năng sữ Thiên tử chí. (Ấy là tai rồng, hay làm cho Thiên tử tới). Nguyên-đế hỏi vậy thì xuất Thiên tử sao? Chủ nhà nói không; hay làm cho Thiên tử tới mà thôi. Nguyên-đế nghe nói lấy làm lạ.
Có bài thơ chê thầy địa lý.
THƠ RẰNG:
Phong thủy tiên sanh quán thuyết không;
Chỉ nam, chỉ bắc, chỉ tây đông;
Thế gian quả hữu vương hầu địa;
Hà bất tiên mưu táng nải ông.
THÍCH NÔM.
Thầy coi phong thủy nói láo quen;
Chỉ đông nam bắc, chỉ tây thiên;
Thế gian quả có đất vua chúa;
Sao chẳng sớm chôn lấy tổ tiên.
Chưa có bình luận
Hãy là người đầu tiên nói cảm nhận về chương này.