Chương 5: Truyện số 98 đến 108
98. — mộng huình lương (Lúa kê).
Lư-sanh là người đời Tổng cũng là học trò thầy Thiệu-nghiêu-phu, học hành giỏi, thượng thông thiên văn, hạ đạc địa lý, trung quán nhơn sự, bá gia, chư sữ vô sở bất độc, ngủ kinh, tứ truyện vô sở bất thông, muốn lập công danh cho sớm, mà đường khoa trường thì chậm chạp, nghĩ mình đương thì bay nhảy, một lớp học với người ta, mà người ta thì đậu đã đời nào, làm quan lớn, vỏng lọng nghing ngang, hầu vợ nhớn nhỡ, vang hiển trong đời; còn lực học mình thì hơn người ta, vào trường nào cũng hỏng, lao đao, lận đận, không mở mày mặt với anh em, thà chết chẳng thà chịu nhục.
Ông Thiệu-nghiêu-Phu, biết ý tên học trò, bôn bức công danh, hay than thân trách phận, thường lấy chữ học tài thi mạng mà khuyên giải, nói rằng: ấy là tại mạng lý con chưa tới, như mạng lý con tới rồi, thì cuộc công danh phú quí có mấy hồi, nội trong một điềm chiêm bao cũng ngó thấy, có lâu lắc chi mà phòng lo cho nhọc.
Tên học trò nghe nói, bèn xin cho ngó thấy cuộc vinh hiển một chút cho thỏa tấm lòng, kẻo đàng công danh còn dài, có thi nữa cũng chưa chắc là đậu rớt, may gặp ông Lử-tiên kể qua các chuyện, ông Lữ-tiên dạy rằng qua ngày mai đi với thầy, thầy sẽ cho coi.
Tên học trò về nhà bồi hồi ngủ không đặng, trông cho sáng mà qua trường. Thầy trò đem nhau đi hơn nữa ngày, không thấy sự gì. Trưa nắng, đói bụng, thầy trò ghé quán, hối chủ quán nấu cơm. Chủ quán lật đật đi lấy gạo huình lương vo mà nấu; mới bắc nồi cơm lên bếp, thì tên học trò đã buồn ngủ, kéo gối mà nằm. (Có kẻ nói ông Lữ-tiên đã có làm phép trong cái gối). Tên học trò nằm xuống, liền ngó thấy một điềm chiêm bao: thấy mình vào thi hội đậu tấn sĩ, làm tri phủ, lần lần làm tới án sát, bố chánh, tuần phủ, đi 4 lọng, vỏng điều, ngáng ngà, quân lính hầu hạ đỏ đường; đi có cờ ngủ hành, có đại cổ, tiểu cổ, vinh hiển dưới thế; còn ở tại dinh tư thì có hầu thiếp 16, 17 tuổi, trắng trẻo lịch sự như tiên; quân hầu nhà khách, nhà bông, nhà trà, nhà bếp dư một đôi trăm đứa. Tên học trò lấy làm khoái ý, nói rằng đã hết kiếp cực khổ rồi. Đến chừng thức giấc dậy, thì gạo huình lương lão quán nấu chưa chín. Ấy cuộc công danh phú quí ở đời chẳng khác chi một giấc huình lương.
99, — trương bất lượng.
Có một người đi buôn, vừa tới đầu đất Trực-lệ thình lình trời mưa đá, chun vào đám lúa mà núp, xảy nghe trên không có tiếng rằng: ấy là ruộng Trương-bất-Lương, chớ hại lúa nó. Người buôn ấy ngẩm nghĩ họ Trương ấy là ai, đã gọi rằng Bất-lương, sao còn hồi họ. Giây lâu hết mưa, người buôn ấy vào trom xóm hỏi thăm quả có người Trương-bất-Lượng, không phải là bất lương. Người buôn ấy học chuyện lại, hỏi ngụ ý chi mà đặt là bất-Lượng. Người ta nói họ Trương ấy giàu lúa, dân nghe đều tới vay mượn, đến khi trả chẳng luận nhiều ít, có bao nhiêu trả bấy nhiêu, họ Trương tin bằng lời chẳng đong đi đong lại, cho nên trong làng ai nấy đều gọi là Bất-lượng, nghĩa là chẳng đong lường. Các chủ ruộng chạy ra đồng coi lúa, đám nào cũng ngã rạp, có một sở ruộng họ Trương lúa đứng sựng không hao một gié.
100 — hộ ăn trộm
Đời Thuận-trị giồng Đằng-trạch trong mười tên dân ăn trộm hết bảy, quan sở tại không dám bắt, sau biệt hộ cho làm hộ ăn trộm. Chúng nó có việc kiện cáo với lương dân, thì quan trên cố ý tày vị, sợ làm thẳng phép mà sanh loạn. Sau có người đi kiện sợ thua, mạo xưng là dân hộ ăn trộm, bên bị cáo giận lắm, một hai nói không phải. Hai đàng tới giữa quan không tranh lẽ ngay gian, cứ chuyện mạo nhận mà cải. Nhằm lúc chồn ma hay khuấy, quan bắt đặng cho đòi thầy pháp tới làm phép bắt chồn bỏ vào vò đậy nắp, chất lửa mà đốt. Con chồn ở trong vò la lớn lên rằng nó cũng là dân trong hộ ăn trộm, ai nấy đều tức cười.
Sách dị sử bàn rằng: nay có quân côn đồ đánh đuốc đi ăn cướp, (nói chữ thì là minh hỏa hành kiếp), quan không làm án ăn cướp, nói là ăn trộm; có đứa leo tường phạm tội gian dâm, rồi lại xung là ăn trộm. Cuộc đời đổi dời chừng ấy, ví dụ bây giờ có bắt đặng chồn, nó cũng xưng là ăn trộm chẳng không.
101. — xử kiện.
Có một đứa đày tớ, nằm mơ màng thấy quỉ bắt đi, đem tới chỗ cung điện. Vua diêm-la ngồi trên ngó xuống, thấy nó liền nói quỉ bắt lầm, dạy phải đưa về. Tên đầy tớ thức giấc sợ chạy ngủ chỗ khác. Quách-an cũng là đày tớ thấy anh em bạn bỏ giường không, lại lên mà nằm. Canh khuya tên Lý-lộc nguyên có thù hềm với tên trước, xách dao vào giết lầm nhằm Quách-an. Cha Quác-an đi kiện, quan huyện tự nhược không lấy làm đều. Cha Quách-an nói mình già cả nhờ có một chút con, con chết mình cũng phải chết. Quan huyện làm án dạy Lý-lộc phải làm con thế, cha Quách-an không chịu. Ông huyện dạy rằng: ấy mạng thế mạng, luật nói đành rành, ông cứ luật.
Có người mướn nhà người ta mà ở, quá kỳ không trả tiền, chủ nhà đi kiện, ông huyện không biết xử làm sao, bèn trưng kinh thi mà rằng: trong mao-thi có nói: Di thước hữu sào, di cưu cư chi (chim thước làm ổ, chim cưu tới ở). Con người ta sanh ra làm chim thước cũng hay.
Lại có án nhân mạng, vợ kiện người ta giết chồng, quan huyện thạnh nộ cho bắt hung phạm tới, vổ ghế quở rằng: đạo vợ chồng là Cầm sắc chi hảo, sao mi dám phân vợ rẻ chồng, làm cho người ta phải ở góa? Thôi, ông bắt mi phải làm chồng thế, còn con vợ mi, ông dạy phải ở góa.
Bây giờ cũng có ông huyện xử kiện ngang ngang, người ta sợ ông huyện giận, người ta không dám nói, phải thiên hạ có gan như ông Lạng-tương-Như, thì mấy ông huyện võ cũng ít tung hoành.
102 — lạng-tương-như.
Tần-thỉ-Hoàng đánh nước Triệu lấy hết năm thành, sau nghe Triệu có ngọc bích, quốc thơ qua Triệu biểu đam dâng ngọc bích thì trả năm thành. Tướng nước Triệu là Lạng-tưưng-Như phụng sứ đem ngọc sang đổi, Tần-thỉ-Hoàng thấy ngọc bích lấy làm châu báu, ngọc muốn lấy mà thành không muốn trả. Lạng-tương-Như lập thế lấy ngọc bích lại, cho người giả ăn mày, lọt ra khỏi thành đem về cho Triệu. Bữa sau Tần-thỉ-Hoàng đòi Lạng-tương-Như vào hỏi ngọc, Lạng-tương-Như khẳng khái nói vua muốn ngọc thì trước phải giao năm thành, cho có chữ làm tin. Tấn-thỉ-Hoàng thạnh nộ hỏi: nhà ngươi có biết Thiên tử chi nộ chăng? Lạng-tương-Như tâu dám hỏi. Tần-thỉ-Hoàng nói: Thiên tử chi nộ thì là lưu huyết bách bộ, bộc thi thiên lý. (Nghĩa là Thiên tử giận, máu chảy trăm bước, thây phơi ngàn dặm.) Lạng-tương-Như hỏi: vậy Thiên tử có biết thất phu chi nộ ra làm sao chăng? Tần-thỉ-Hoàng làm thinh, Lạng-tương-Như trợn con mắt lên nói: Thất phu chi nộ thì là lưu huyết ngủ bộ, bộc thi nhị nhơn. (Nghĩa là đúa hèn giận, máu chảy năm bước, bày thây hai người.) Tần-thỉ-Hoàng thấy người khí khái cũng kiêng mà cho về.
Ấy Lạng-tương-Như phụng huờn Triệu bích, cho nên bây giờ có mượn có lấy vật gì mà hẹn trả, thì người ta hay viết chữ phụng bích hay là bích hườn.
103. — chuyện họ đổ.
Họ-đổ ở sông Nghi, ở trong chợ bước ra, ngồi dựa vách tường đợi bạn hàng, mệt ngủ quên, thấy một người cầm trát bắt y đi tới một tòa dinh dảy, không biết là dinh ông nào, con mắt chưa tầng thấy. Vào dinh thấy một người đội mảo ống ở trong đi ra, Đổ nhìn thì là họ Trương ở đất Thanh-châu cũng là người cố cựu. Trương thấy Đổ, thất kinh, hỏi làm sao anh lọt xuống đây. Đỗ nói không biết làm sao mà có trát đòi. Trương nghi đòi lầm, xắm rắm đi hỏi, biểu Đổ phải ở một chỗ đừng đi đâu lạc thì cứu không đặng.
Trương nói rồi đi mất, hồi lâu có người đi trát tới chịu đòi lầm, cho Đổ về. Đổ từ biệt ra đi, dọc đàng gặp sáu bảy đứa con gái lịch sự, phải lòng đi theo, qua đàng chẹt, trở lộn xuống, được vài mươi bước, Trương ở đàng sau kêu lớn, hỏi anh Đổ toan đi đâu? Đổ mê sa xăm xăm đi mải, giây lâu thấy mấy đứa con gái chun vào lều. Đổ nhìn là quán rượu mụ Vầm, chun vào cữa, ngó quanh quất, thấy mình nằm chung một chuồng với heo con, sờ sờ đã hóa ra heo, tai còn nghe tiếng Trương kêu vẳng vẳng, sợ hoảng đụng đầu vào vách tường, xảy nghe tiếng nguời ta nói con heo điên, nó nhảy chết. Đổ ngó ngoái thấy mình lại hóa ra người, lật đật chạy ra khỏi cữa, thì thấy Trương chực ngoài đường dức rằng: tôi đã dặn anh đừng đi, sao anh không nghe, thiếu một chút nữa thì đã không xong. Nói rồi Trương nắm tay Đổ đưa ra tới cữa chợ, từ giả mà đi. Họ-đổ thức giấc thì mình hãy còn ngồi dựa vách, tới quán mụ Vầm hỏi quả có một con heo con nhảy đụng vách tường mà Chết,
104. — ông huyện lâm tri.
Ông già Lâm-tri gả con cho Giám-sanh. Hồi sắm sữa gả, rước thầy bói việc trăm năm cho con. Thầy bói nói con gái ấy sau chịu quan hình, ông già không bằng lòng. Thầy bói cười nói: tôi nói sa đề, con nhà thế gia có đâu phải tới công đình, mà vợ ông Giám-sanh ai lại dám đá động.
Đến khi con gái ông ấy về nhà chồng, thì lăng loàn hổn hào chưởi chồng như chưởi đầy tớ. Ghe phen chống chịu không đặng, tức mình phải đi thưa quan. Quan thâu đơn cho đòi con gái, ông già hay đặng, sợ đem con cháu tới quan, xin bải vụ kiện; thầy Giám-sanh cũng tự hối xin thôi. Ông huyện thạnh nộ nói: việc đã vào chốn công môn, ai muốn thôi cũng được thảy sao? Quan huyện làm hẳn cho bắt vợ Giám-sanh hỏi sơ một hai lời rồi nói là đờn bà dữ, dạy đánh ba chục lột da trôn.
Sách dị sử bàn rằng: thân phận đờn bà yếu đuối quan huyện dể chẳng thương, cớ sao ra tuồng giận dữ thể ấy. Nhưng vậy trong hạt có ông huyện công thẳng, thì trong làng mới bớt đờn bà dữ với chồng.
105 — tuyết xuống mùa hạ
Năm đinh hợi tháng bảy ngày mồng sáu, bên Tô-châu tuyết xuống thình lình, hao nhiều cây trái, nhơn dân sợ hãi, đều đam nhau tới chùa Dại-vương mà vái cho khỏi nạn. Thần Đại-vương lên đồng quở rằng: bây giờ có tới quan, xưng chữ lão gia, thì ai nấy đều thêm chữ đại ở đàng trước; còn ông thần mình thì không để chữ đại, trong ý tưởng không đáng để chữ đại sao? Ai nấy thất sắc, đều kêu ông thần là đại lão gia. Tuyết bèn dứt đi không xuống nữa. Nghĩ ra thần cũng ưa mị, chịu phùng nghinh, huống lựa là người.
Phong tục đổi đời, kẻ làm nhỏ càng mị, kẻ làm lớn càng kiêu. Chẳng kỳ quan chức lớn nhỏ, đều ưa xưng là quan lớn, mai mốt trên chữ lớn không biết còn thêm chữ gì! Nhứt là tại nơi kẻ hầu gần vẽ viên cho lớn sự thể: tiếng tục nói là Thủy đại thuyền tự cao, thích nôm là nước lớn thuyền phải nổi lên cao.
106. — người ta hóa ra heo.
Đổ-thiểu-Lôi là người ở Ích-đô có hiếu với mẹ, mẹ mù, nhà nghèo, bữa bữa thường lo cho mẹ ăn uống tử tế. Một bửa y đi xa lo mua thịt sẳn, giao cho vợ, biểu kho cho mẹ ăn, người vợ ngổ nghịch xát thịt kho lộn bò hung đem cho mẹ ăn. Mẹ nghe thối ăn không đặng, lấy giấu đi, để đợi con về. Thiểu-lôi về hỏi thăm mẹ thịt kho có vừa miệng chăng? Mẹ lắc đầu lấy thịt đem ra cho con coi, Thiểu-lôi thấy bò hung giận lắm, chạy vào nhà hòng đánh vợ, lại sợ mẹ hay, bỏ vô giường nằm thở ra thở vào. Vợ hỏi cũng không nói, vợ tức mình ngồi dưới chơn giường tủi hổ. Thiểu-lôi khoát nạt rằng: chưa đi ngủ còn đợi đòn sao? Vợ làm thinh lẳng lặng, một chặp Thiểu-lôi dậy thắp đen rọi coi thì vợ đi đâu mất; thấy có một con heo, có hai chơn mà là chơn người ta, mới biết vợ hóa ra heo. Quan huyện sở tại hay đặng, bắt dắc con heo đi bốn phía thành, để mà răn thiên hạ.
107. — ông ngô đồng tri.
Đất Tế-nam có ông đồng tri, tánh ngay thẳng không hay dua mị. Thuở ấy kẻ làm việc quan hay đòi tiền công, tiền son mực gọi là lậu qui nghĩa là phép riêng. Hễ trong tơ lại ăn uống của dân, khuy không của quan, thì quan trên che chở, tang vật ăn chung không ai dám ngạnh trở. Chia cho ông Đồng-tri một phần, ép ông ấy không lảnh, quan trên giận quở mắng, ông ấy cũng mắng trả mà rằng: tuy tôi làm nhỏ, cũng là chức tước triều đình, tôi có tội thì tham xữ không được chưởi mắng, có chết tôi xin chịu, tôi không đem lộc triều đình ra mà thường tang uổng pháp. Quan trên phải làm vui, lấy lời phủ ủy. Người người đều nói đời nầy làm phải không đặng, té ra quấy là tại người ta mà lại đổ cho đời. Nhơn thuở ấy đất Cao-uyển có một người mắc tà túy tới tại công đường ăn nói khẳng khái, nghe tiếng nói mà không thấy người, có kẻ hỏi rằng: quỉ thần có phép linh thiêng, chuyện chi cũng biết, dám hỏi nhà ngươi trong quận nầy, quan viên cả thảy có mấy ông. Người ấy nói có một ông, ai nấy cười. Người ấy lại nói cả quân quan lớn nhỏ có 72 ông mà đáng mặt quan thì chỉ có một mình Ngô-đồng-tri mà thôi chớ.
108. — ăn trôm bình vàng.
Đời minh hiệu Thành-hóa, tế nam giao việc rồi dọn đồ mất hết một cái bình vàng. Thuở ấy có một người đầu bếp hầu gần, ai nấy nghi liền bắt nó mà giao cho quan tra xét. Tấn khảo đau đòn tên đầu bếp túng lắm phải chịu có lấy; song đên khi hỏi bình, thì nó bơ vơ không biết đâu mà nói. Dẩn nó đi kiếm, nó chỉ bậy, nói ở đàng trước nền tế giao; y theo lời nó, đào lên không được chi cả, bèn đem nó vô ngục bóp xiền lại. Cách ít ngày có thằng chánh ăn trộm bình, đem dày xách bình cũng bằng vàng ra bán ngoài chợ, có người nghi, đem cớ với quan, mới ra mối ăn trộm bình. Quan hỏi thằng ăn trôm, bình vàng để đâu, nó cũng khai rằng chôn trước nền tế giao ở chỗ nọ, Quan y theo lời nó dạy đào chỗ nọ, quả được cái bình vàng. Té ra cũng là một chỗ tên đầu bếp chỉ, đào sâu xuống ít tấc mà thôi.
Giả sử hồi tên đầu bếp đem đi đào mà được bình hay là tên ăn trộm bình không đem dây chuyền vàng ra mà bán, thì tên đầu bếp chắc chết, dẩu có trăm miệng cũng không chối đuợc. Vậy dùng hình dữ mà tra thì có sự chi qua được, ấy nhà nước mở ra một mặt căn nghi, gìn lòng nhơn đức trong những án hồ nghi, thì làm cho dân sống nhiều.
Chưa có bình luận
Hãy là người đầu tiên nói cảm nhận về chương này.