Chương 1: Truyện số 1 đến 7
Nguồn: Huỳnh Tịnh Của (1834–1907), Chuyện giải buồn (1886). Tác phẩm thuộc phạm vi công cộng (tác giả mất năm 1907).
Văn bản chép từ Wikisource tiếng Việt: https://vi.wikisource.org/wiki/Chuy%E1%BB%87n_gi%E1%BA%A3i_bu%E1%BB%93n
DKTruyen chỉ chia chương và định dạng lại; lời văn, chính tả giữ nguyên theo bản Wikisource.
1. ― chí khí cao.
Thuở xưa vua Nghiêu muốn truyền ngôi cho Hứa-do, bèn đòi Hứa-do tới mà dạy rằng: trẩm nghe ngươi có đức lớn, trẩm muốn truyền ngôi cho ngươi, ngươi phải nối ngôi cho trẩm mà làm vua thiên hạ. Hứa-do nghe nói, tức cười, vội vàng đi xuống suối mà rửa tai. Cũng một khi ấy có ngươi Sào-phủ là người giữ trâu đem trâu xuống suối mà cho uống nước, thấy Hứa-do đương lum khum rửa tai, hỏi Hứa-do làm sao mà rửa tai? Hứa-do lắc đầu nói: ông Nghiêu đòi tôi, biểu tôi thì làm vua. Sào-phủ nghe nói, liền đem trâu lên trên dòng nước mà cho uống. Hứa-do hỏi làm sao anh lại đem trâu lên trên ấy mà cho uống? Sào-phủ rằng: anh rửa tai anh xuống đó, tôi sợ trâu tôi uống nhằm. Sào-phủ lại rằng: anh đi đâu cho người ta biết anh mà muốn nhường ngôi vua cho anh, ấy là tại bụng anh hãy còn danh lợi.
Nghe mà rửa chi bằng giữ vẹn đừng nghe.
2. ― cầu tiếng chưởi cho rụng lông vịt.
Có một ông già nhơn đức hiền lành, cả đời không hề biết chưởi ai. Lối xóm có đứa gian thấy ông ấy nuôi vịt, lén tới bắt trộm một con, đem về làm thịt mà ăn. Đứa gian ấy ăn con vịt rồi, không biết làm sao lông vịt mọc ra đầy mình, lấy làm sợ hãi; phần thì xốn xang khó chịu, phần thì xấu hổ, không dám ra khỏi nhà, vợ con nó chạy thuốc thang gì uống vào lông vịt cũng không rụng, nó lại càng kinh hãi hơn nữa; nó cầu khẩn hết sức, xin cho khỏi tật gì quái gở như vậy: Đêm kia nó nằm chiêm bao thấy thần nhơn mách bảo rằng: phải lạy ông già nhơn đức ấy, xin ông ấy chưởi cho một tiếng, thì rụng hết lông vịt, chẳng phải cầu thầy chạy thuốc làm chi. Trời vừa rựng sáng, thằng ăn trộm vịt, lật đật qua nhà ông già, ban đầu kiếm đều nói dối, mà rằng: tôi nghe ông mất một con vịt, tôi thấy thằng ở một bên tôi, ăn cắp, nó sợ chưởi lắm, nếu ông chịu chưởi một tiếng, nó phải trả lại cho ông bấy giờ. Ông già nói: ổi thôi! Mất còn, còn mất cũng chẳng làm gì, ai có hơi đâu mà chưởi nó cho mệt. Thằng ăn cắp thấy ông già không chịu chưởi, tức mình phải lạy mà thú thiệt rằng: tôi ăn cắp vịt ông mà bởi tôi ăn thịt nó rồi thì mình mẩy tôi mọc đầy những lông vịt, uống thuốc gì cũng không rụng; nay có thần nhơn mách bảo, dạy tôi phải thú thiệt cùng ông, xin ông chưởi một tiếng thì lông vịt sẽ rụng hết; vậy xin ông làm phước, chưởi giùm cho tôi một tiếng, kẻo tôi đau đớn khó chịu lắm. Nó và nói và khóc, ông già thấy vậy động lòng, mới chưởi một tiếng, tức thì lông vịt trong mình thằng ăn cắp rụng sạch, trơn tru lại như cũ.
Kẻ bày chuyện bàn rằng: ấy tội ăn trộm đáng sợ hãi là dường nào, vì một lần ăn trộm mà lông vịt mọc ra đầy mình; vã sự chưởi bới cũng nên xa lánh là thể nào, vì một tiếng chưởi trừ hết tội ăn trộm.
3. — địa ngục ở miền dương gian.
Có một người chết tức, phải đi theo quỉ xuống âm phủ, vua Minh-vương tra bộ không có tên, nói quỉ bắt lầm, dạy quỉ phải đem trả lại dương gian. Người bị quỉ bắt lầm có ý tọc mạch, muốn coi chỗ âm ti ra làm sao, mới nói nhỏ với quỉ, xin đem đi coi cho biết. Quỉ nghe lời, dẩn người ấy đi coi khắp chín cữa ngục, tới một chỗ thấy có một thầy sải bị cột ngang bắp vế mà treo ngược lên, kêu van rên siếc khốn nạn. Người ấy bước gần, coi tạn mặt, thì là anh ruột mình, liền thất kinh hỏi quỉ làm sao mà anh mình phải treo lên khốn khổ như vậy. Quỉ nói tại nó quyên tiền người ta, tưởng để mà làm phước, chẳng dè quyên đặng bao nhiêu, nó đánh bạc hết bấy nhiêu, cho nên phải phạt tội nó như vậy. Người ấy lại hỏi quỉ: có lẽ gì mà cứu anh mình chăng? Quỉ nói phải ăn năn sấm hối thì khỏi.
Đến khi người quỉ bắt lầm sống lại, nhớ việc mình thấy dưới âm phủ, bèn tưởng tới người anh ruột đương tu bên chùa Tập-phước, mới đi qua đó mà thăm anh. Tới nơi thấy anh nằm xó vách, đau một cái ung lớn ở duới bắp vế, phải treo chơn lên, in như chuyện thấy dưới âm phủ, thì lấy làm sợ hãi, hỏi anh làm sao mà phải treo chơn lên? Người anh nói: tao đau cái ung độc dữ quá, nếu không treo chơn lên, thì nó đau thấu ruột gan. Người em học lại mọi việc mình đã thấy dưới âm phủ cùng các lời quỉ nói, thì người anh thất kinh, ăn năn thống hối, qua ít ngày chỗ ung độc lành; từ ấy mới trở nên một ông thầy sải tốt.
Kẻ bày chuyện bàn rằng: đứa tiểu nhơn thường nói chừng nào xuống địa ngục sẽ hay; mà chẳng biết những sự họa hại ở đời này, thì rõ ràng là hình phạt dưới địa ngục.
4. — ăn mày xin vàng nén.
Có một người giàu có lớn, mà hà tiện cũng lớn, cứ bo bo giữ của không chịu làm phước cho ai. Có một tên ăn mày tới xin quyết một nén vàng, người nhà giàu phát giận, nói giá ăn mày dám xin tới vàng nén, biểu đày tớ đuổi đi. Tên ăn mày la lết không chịu đi, cứ việc ở trước nhà mà xin mãi. Trong nhà không ai thèm nói tới, tên ăn mày sớm đi xin ăn chỗ khác, trưa lại lộn về ở tại nhà giàu mà nài hoài cho đặng nén vàng. Nó làm như vậy đã đặng ba năm, người nhà giàu thấy nó có công gắng vó, cũng mỏi lòng mà chịu cho. Tên ăn mày được nén vàng, thì làm bộ nhảy nhót mầng rỡ bội phần, liền cổi áo gói lại mà đi. Khi tên ăn mày đi ra một đỗi, thì người nhà giàu sai một đứa đầy tớ theo rình coi lão ăn mày đem nén vàng đi đâu, cùng làm chuyện gì với nén vàng. Tên đầy tớ đi theo xa xa, thấy lão ăn mày đi thẳng ra ngoài đồng, tới chỗ bóng mát ngồi xuống mở áo lấy nén vàng, dồi lên dồi xuống mà giởn chơi, coi ra ý mầng rỡ lắm. Cách một hồi lão ấy buồn ngủ, nằm chèo queo, nén vàng thì để trần một bên chỗ ngủ. Đứa đầy tớ nom đặng, chờ lão ăn mày ngủ mòm, lén lại lấy nén vàng đem về cho chủ, chủ mầng còn nén vàng, liền đem đi cất. Lão ăn mày thức dậy thấy mất nén vàng, không thèm tìm kiếm, xăm xăm trở lại nhà giàu mà xin nén khác. Ông nhà giàu nói: mới cho một nén làm gì hết đi, mà còn xin nữa? Lão ăn mày nói: tôi vừa nhắm mắt, nó liền mất đi, nên phải xin ông nén khác. Ông nhà giàu nghe nói, dường như ai soi sáng tấm lòng, liền hiểu sự đời: hễ con người ta nhắm mắt rồi thì chẳng còn của cải sự nghiệp gì nữa; mới khẫn nguyền xin táng của cải mà làm phước với thiên hạ; sau nghĩ lại, mới biết người ăn mày ấy là tiên.
5. — đầu thai ba kiếp.
Họ-lưu hay nhớ việc kiếp trước, nói có một kiếp mình sanh làm chức quan, mà tánh hạnh xấu xa; đến khi được 62 tuổi thì chết, xuống chầu vua Minh-vương, nhờ ơn tiếp đãi cũng như quan. Đến lúc tra bộ, vua Minh-vương thấy y có nhiều vít tích, bèn nổi giận dạy quỉ kéo y xuống, bắt đi đầu thai làm ngựa. Quỉ vâng lời bắt y trói lại, dẩn đi tới một cái nhà ngạch cữa cao, y vừa xắm rắm bước qua, quỉ đánh thét đau lắm, y té quị xuống, ngó lại thì thấy mình ở chuồng ngựa, nghe tiếng người ta vẳng vẳng rằng: con ngựa cái đẻ được một con ngựa đực ngộ nghỉnh. Trong trí y hiểu rõ ràng, ngặt nói ra không được. Khi ấy đói lắm, cực chẳng đã, y phải bú con ngựa cái. Đến khi được bốn năm tuổi, thì cao lớn mà nhát roi, chủ cởi có yên nệm, cho đi chậm chậm, thì dễ chịu; mắc sắp đầy tớ cỡi trần, hai mắt cá nó thúc vào hông thì đau thấu tim phổi, tức mình y bỏ ăn ba ngày mà chết. Vua Minh-vương tra bộ, nói y chưa mãn phạt, quỡ sao có ý tránh trút, dạy quỉ lột da, bắt đi làm chó. Y lấy làm xấu hổ, quỉ đánh xối, đau đòn, y có ý nhào xuống dưới chơn tường cho chết; té ra mình nằm dưới chỗ chó đẻ, con chó cái lại mà cho bú, thì mới biết mình sinh ra một lần nữa. Lớn lên thấy phẩn cũng biết dơ, mà ngửi thì nghe thơm; song y thề lòng không chịu ăn. Thân làm chó mấy năm, lấy làm tức tối, muốn chết mà sợ vua Minh-vương nói mình cố ý qui tị, còn ông chủ nhà lại nuôi dưỡng tữ tế không chịu giết. Ngày kia, y cố ý cắn ông chủ nhà rách thịt ra. Ông chủ nhà giận mới đập y một gậy, y chết xuống hầu vua Minh-vương, vua Minh-vương giận y sao làm chó dại, đánh ít trăm, bắt đi làm rắn, bỏ y vào khám tối. Y leo vách, đục nhà mà chun ra, ngó lại thì mình đã hóa rắn thiệt, nằm dưới cỏ. Khi ấy y mới làm lời nguyện không hại loài sống, cứ nuốt trái cây mà chịu. Làm rắn dày năm, nghĩ muốn tự vận mà sợ phép, hại người ta mà chết cũng không khá, y mới lập tâm kiếm một phép chết cho êm. Vậy ngày kia, y đương nằm trong bụi, nghe tiếng xe đi ngang, y mới bò ra nằm giữa đàng, xe liền cán y đứt làm hai đoạn. Vua Minh-vương thấy y lại mau mau trở xuống, cũng lấy làm lạ, nhưng vậy thấy y khiêm nhượng xưng thiệt mọi đều, cũng nghĩ về sự y vô tội mà bị hại, bèn cho phép y đầu thai làm người là ông Lưu-công. Lưu-công sanh ra liền biết nói, văn chương kinh sữ coi qua liền thuộc, năm tân-dậu cữ bậc hiếu-liêm, thường khuyên người ta rằng cỡi ngựa phải lót lá phủ, còn sự cỡi trần mà thúc mắt cá, thì đau ngựa hơn là đánh roi.
Sách dị sữ nói rằng: giữa loài lông sừng mà có bậc vương công cùng quan lớn lộn vào, ấy là tại giữa bậc vương công cùng quan lớn, chưa chắc là không có loài lông sừng chen vào vậy. Con người ở đời phải làm lành: kẻ hèn làm lành cũng như là trồng cây mà hái hoa; kẻ quí làm lành cũng như đã có hoa mà bồi lấy cây. Hễ trồng cây thì cây lớn; bồi cây thì cây bền. Nếu chẳng vậy, thì có khi phải kéo xe, phải người ta dàm khớp mà làm ngựa; hoạc phải ăn dơ, bị người ta ăn thịt mà làm chó; hoạc phải trườn bò có vãy có vi, phải bà cắt, thầy bòi ăn mà làm rắn.
6. — kiện mất nàng dâu.
Đời nhà Minh có một người cưới vợ, vừa rước về tới nhà, dỡ màn ra thì thấy kiệu không. Hai họ lấy làm chuyện dối nhau, bèn đi thưa tới quan huyện sở tại. Quan huyện hỏi, mai dong cùng đầu tộc đều quả quyết rằng: nàng dâu có lên xe. Quan huyện chưa biết xử làm sao. Nhằm lúc có việc gấp, quan huyện phải đi khám điền, tới chỗ giáp giái, thấy có một cây cao lớn dị thường, tàn nó che hết hai mươi mấy mẫu ruộng, không ai cày cấy đặng. Ý quan huyện muốn đốn đi mà các người già cả cùng các kẻ theo hầu can gián, nói là chỗ thần nương dựa, nếu dân sự có đều không cung kính thì phải đau phải bịnh mà chết. Quan huyện không nghe, bắt dân tráng vài mươi người, cầm binh trượng, nổi chiêng trống kéo tới gần gốc cây, xảy thấy ba người mặc áo mão đón đàng, đứng bên phía tả mà phân rằng: chúng tôi là thần cây nầy, ở đây đã nhiều năm, xin quan huyện lấy lòng nhơn mà tha thứ. Quan huyện nạt lên một tiếng, ba người ấy biến mất, liền dạy trai vác rìu xốc vào, vừa chém xuống thì thấy chảy máu ra, ai nấy đều sợ hãi mà dang ra. Quan huyện tức giận giựt rìu đốn một mình, ai nấy sợ phải trở vào mà đốn. Cốt hơn hai trăm lưỡi rìu cây ấy mới đứt, thấy trên ngọn cây có một ổ lớn, có ba người đờn bà trong ổ rớt xuống gần chết, người ta đổ thuốc cách một hồi mới sống lại. Hỏi làm sao mà ở trên cây, ba người đờn bà nói: năm trước chúng tôi bị bảo đưa lên trên ấy, ở đó cũng như ở trên lầu cao có ba người vui vầy, ăn uống đồ mỉ vị, thường ngó xuống dưới lầu, thì thấy thành thị ở trước mặt, có một đều không thang mà xuống, không dè là ở trên ngọn cây. Quan huyện hỏi kỉ quê quán, đều cho đưa chúng nó về, tra ra có một đứa chánh là con dâu ngồi kiệu mà mất đi, thì vụ kiện mất nàng dâu mới yên. Quan huyện lấy cây lớn ấy phá ra mà làm nhà khách, từ ấy mới hết yêu quỉ, đất xung quanh trở nên ruộng tốt.
Ấy ma có không là tại nơi người, hễ tin thì có, mà mạnh mẽ không tin như quan huyện ấy thì là không có.
7. — phật đổ mồ hôi.
Có tiếng đồn tượng phật ở chùa Biện-châu đổ mồ hôi, ai nấy đua nhau đi coi, kẻ cúng món này, người dâng món khác, lễ vật đầy đàng; nhứt là đờn bà thì có nhiều người đem hàng giẻ chặm mồ hôi để may áo cho con, lấy làm linh thính: con bận đặng áo ấy thì sức mạnh bình yên.
Quan phủ sở tại cũng lật đật đem vàng bạc tới cúng; bà phủ lại làm chay. Bỡi đó các quan văn võ, làng xóm cùng các người buôn bán, rùng rùng đem tiền bạc tới cúng, dật dều đàng sá, giành nhau sợ mình cúng sau. Quan phủ cho người đi coi, ai cúng bao nhiêu đều biên vào sổ. Cách mươi bữa người dạy đóng cữa chùa, nói rằng phật hết đổ mồ hôi, không can chi phải cúng nữa. Tính trong ngày người ta cúng dư muôn, quan phủ dạy đem hết vào kho, để mà phát cho quân lính.
Ấy quan phủ thấy người ta có thói đua nhau đem tiền bạc mà làm chuyện vô ích, thì người dùng chước thâu trử, để mà làm việc có ích.
Chưa có bình luận
Hãy là người đầu tiên nói cảm nhận về chương này.