Chuyện giải buồnChương 8: Truyện số 40 đến 45
Nền
Cỡ chữ
20px
Phông chữ
Giãn dòng

Lựa chọn được ghi nhớ cho lần đọc sau.

Chuyện giải buồn · Huỳnh Tịnh Của

Chương 8: Truyện số 40 đến 45

2.694 chữ · Đăng 20/10/2026

40. — thầy đạo sĩ ở núi lao sơn.

Xưa ấy có tên Vương-sanh cũng là con nhà thế gia, từ nhỏ mộ đạo, nghe núi Lao-sơn có tiên nhiều, bèn đội níp qua đó. Trèo lên chót núi thấy có am tự vắng vẻ, ở trong có một thầy đạo sĩ ngồi chiếu lác, diện mạo đẹp đẻ; hỏi chuyện thì thầy đạo sĩ nói nhiều lẽ cao xa, Vương-sanh bèn xin làm học trò. Thầy đạo sĩ nói e nhà ngươi chịu khó không đặng. Vương-sanh quả quyết nói chuyện chi khó nhọc cũng làm đặng. Đến chiều tối học trò về đông, Vương-sanh thấy đều xá mỗi một trò, rồi ở lại đó. Trời vừa rựng sáng thầy đạo sĩ kêu Vương-sanh trao cho một cái búa, biểu đi theo học trò mà đốn củi. Vương-sanh vâng lảnh búa đi hái củi hơn một tháng, tay chơn sưng trầy khốn cực chịu không đặng, trong ý muốn trở về. Đêm kia đi lấy củi về, thấy có hai người tới uống rượu cùng thầy, trời tối trong nhà chưa thắp đèn, thầy lấy một tấm giấy cắt làm mặt kính dán vào trong vách, giây phút mặt trăng mọc lên sáng sốt chiếu cả nhà, các học trò nhảy nhót hầu hạ xung quanh. Một người khách nói: trăng thanh đêm toại, chẳng lẽ vui một mình, liền vói lên trên ghế lấy một bầu rượu, biểu học trò chia nhau mà uống cho say. Vương-sanh nói trong mình cái hồ nhỏ mà phân chia sao cho đủ. Khi ấy mỗi trò đều kiếm chén, lật đật giành nhau mà rót, sợ hết rượu đi, té ra rót hoài cũng có hoài, đều lấy làm lạ với nhau. Rồi đó người khách thứ hai nói nhờ ơn cho mặt trăng soi sáng, lẽ phải đòi nàng Hằng-nga xuống mới vui. Nói rồi liền lấy một chiếc đủa quăng vào trong mặt trăng, xảy thấy một gái xinh tốt ở trong mặt trăng đi ra, hồi mới ra không đầy một thước, xuống vừa tới đất thì cao bằng người ta, lưng eo, cổ nhỏ, múa hát dịu dàng, rồi nhảy lên trên ghế, ai nấy lấy làm lạ, bổng chúc huờn lại chiếc đủa, ba ông đều cả cười. Một ông lại rằng: đêm nay vui vẻ cũng nên vào cung trang mà yến ẩm cùng nhau. Nói rồi ba ông đều vào trong mặt trăng, học trò đều thấy ba ông ngồi uống rượu như hình trong kiến. Cách một hồi mặt trăng lờ, học trò thắp đèn đem ra, thì còn có một mình thầy dạo sĩ, hai người kia đi đâu mất, thấy trên ghế còn đồ ăn, trên vách thì có một miếng giấy tròn như hình mặt kính mà thôi. Ông đạo sĩ hỏi học trò uống có vừa không? Học trò đều thưa uống no đủ. Ông đạo sĩ nói: uống no đủ thì phải đi ngủ cho sớm, đến mai còn phải đi hái củi. Các học trò lui ra, Vương-sanh mầng thầm không còn nghĩ tới sự về. Ngày kia Vương-sanh thấy công việc một ngày một khổ, mà thầy cũng chẳng truyền nghề gì cho, tính đợi chờ cũng mỏi. mới từ giã mà rằng: kẻ môn đệ ở xa xuôi, tìm tới thầy mà học phép tiên, dầu chẳng đặng phép trường sanh, miễn là học đặng nghề chi nhỏ mọn cũng thỏa tấm lòng; nay theo thầy đã hơn ba tháng, chẳng qua là học mọt nghề làm củi, sớm đi tối về, thiệt ở nhà tôi cả đời chưa tầng chịu cực như vậy. Thầy đạo sĩ cười mà rằng: ấy ta nói nhà ngươi chịu cực không đặng, quả có như vậy, thôi đợi sáng ngày ta cho nhà ngươi về. Vương-sanh rằng: tôi lên làm việc vàn cũng đả lâu ngày, xin thầy nghĩ lại mà cho tôi một chút phép chi cho khỏi sự luống công vô ích. Thầy đạo sĩ hỏi nhà ngươi muốn phép gì? Vương-sanh thưa rằng: tôi thấy thầy muốn đi đâu thì đi, phên vách cũng không ngăn trở đuợc, như cho tôi được phép ấy thì cũng đã đủ. Thầy đạo sĩ cười, chịu cho, bèn truyền mấy câu chú, biểu Vương-sanh đọc lấy một mình. Thầy hô vào, Vương-sanh trở mặt vào vách mà không dám vào. Thầy hô: vào thử coi. Vương-sanh bước chẫm rãi đi vào tới vách dội lại. Thầy hô cúi đầu chạy xông vào đừng giục dặc. Vương-sanh lui ra ít bước chạy sấn vào tới vách, sướt qua như không có vách, ngó lại quả thấy mình ở bên kia vách, mầng lắm vào tạ thầy mà về. Thầy dạy về phải giữ mình thanh tịnh, bằng không thì không hiệu đó; rồi đó thầy đem tiền gạo cấp cho Vương-sanh về đường. Vương-sanh về tới nhà khoe khoang với vợ, nói: tao học đặng phép tiên hay quá, dầu là vách đá, tao cũng đi xuyên qua thong thả. Vợ không tin, Vương-sanh làm thử cho vợ coi, bèn lui ra ít bước, chạy đâm sầm vào vách; té ra đụng vách té ngữa ra, bất tỉnh nhơn sự, vợ đở dậy thì trán u lên một cục bằng cái trấng vịt. Vợ cười nói là phép mọc sừng, Vương-sanh mất cở chưởi lão đạo sĩ dạy bậy.


41. — phép ma.

Vu-công thuở còn trai nhặm lẹ hay đánh quờn, sức lực mạnh bạo, đời vua Sùng-trinh, đi ứng thí kinh đô, tên đầy tớ xuông dịch nặng, lấy làm lo sợ. Xảy nghe trong chợ có người bói giỏi, hay đoán sống chết, Vu-công bèn đi bói thử coi tên đầy tớ chết sống thể nào. Vu-công vừa tới nơi chưa kịp nói, tên thầy bói nói thinh không rằng: có phải đầy tớ nhà ngươi đau, nhà ngươi đi bói thế chăng? Vu-công sững sốt, tên thầy bói rước lấy mà nói rằng: người bịnh ở nhà không hề gì, một lo sợ cho nhà người mà thôi. Vu-công xin bói chuyện mình, thầy bói đứng dậy làm bộ sợ hãi mà nói rằng: nhà ngươi ba bữa nữa chết. Vu-công thất kinh, thầy bói nói nhưng vậy ta cũng có phép, thôi chịu 10 đồng bạc đây ta cứu cho. Vu-công nghĩ đi nghĩ lại rằng chết sống đã có số, dầu cho thầy bói có phép cũng không cải đặng. Vu-công nói rồi liền sắp lưng ra về. Thầy bói nói: một chút một đỉnh mà tiếc, sau chớ ăn năn. Có một hai người thương Vu-công, sợ, nói nhỏ biểu liều đi, Vu-công không nghe. Thoát chúc tới bữa thứ ba, Vu-công cứ việc ngồi lẳng lặng để mà coi có chuyện gì. Té ra cả ngày không thấy đau đớn gì, tối lại, Vu-cống đóng cữa khêu đèn, cắp một thanh gươm ngồi chồm hổm đã hơn một canh, cũng không thấy phép chết ra làm sao. Buồn ý mới đi ngủ, vùng nghe ngoài cữa có tiếng róc rách, Vu-công lật đật dòm, thấy một đứa con nít vác giáo đi vô, tới đất thì cao bằng người lớn. Vu-công nắm gươm chờ dậy, mau tay chém một cái hụt đi, tên ấy hóa nguyên hình nhỏ lại, chun phóc theo lổ song mà trốn; Vu-công lẹ tay chém theo một gươm, nó nhào xuống, rọi đèn thì là hình nhơn giấy, đứt ngang lưng. Vu-công không dám nằm cứ việc ngồi chực, một hồi có một con gì chun lổ song mà vào nanh vút như quỉ, nó vừa tới đất, Vu-công chém sả ra làm hai đoạn. Coi nó còn cục cựa, Vu-công sợ nó sống lại chém bồi, lưỡi nào cũng trúng, nghe không êm tiếng gươm, coi lại thì là đồ gốm, bể nát ra từ miếng. Khi ấy Vu-công nhắc ghế ngồi ngay cữa sổ, con mắt chăm chỉ mấy lổ hở, giây lâu nghe ngoài song có tiếng thở như bò, có một con chi giựt song xô cữa rúng động. Vu-công sợ sập nhà, tính ra ngoài mà đánh lộn, vội vàng xô cữa chạy ra, thấy một con quỉ đứng cao đầu đụng mái nhà, trăng mờ mờ thấy mặt nó đen như lọ nồi, con mắt có ngời, không áo không giày, tay cầm cung, lưng đai gươm. Vu-công sợ hãi, thằng quỉ giương cung bắn, Vu-công lấy gươm đánh vẹt tên rớt xuống, chờn vờn chém, nó bắn nữa, Vu-công nhảy tránh, mũi tên bay vụt vụt xuyên qua vách tường. Thằng quỉ làm dữ rút gươm huơi huơi chém tới, Vu-công né khỏi, lưởi gươm xuống đá cũng đứt lìa. Vu-công lòn vào dưới háng chém trúng mắt cá, thằng quỉ giận lắm hét lên chém xuống, Vu-công nép mình, lưỡi gươm nó xuống sả đứt chơn quần. Vu-công nhảy lên nhắm ngang sườn nó, chém một gươm mạnh, thằng quỉ té ngữa ra. Vu-công chém bậy chém bạ, nghe như tiếng mỏ, rọi đèn coi thì là hình gỗ cao lớn bằng con người, cung tên nó hẫy còn ràng trong lưng, diện mạo hung ác, mấy dấu chém đều có máu. Vu-công chong đèn mà chờ sáng, mới biết những quỉ yêu ấy, gốc bỡi thầy bói sai, để giết người ta, làm cho người ta tin nó có phép thần thông. Qua ngày sau Vu-công nói chuyện cho anh em hay, rồi đem nhau tới chỗ thầy bói, tên thầy bói ngó thoáng thấy Vu-công, bèn ẫn mình không ai thấy. Có người nói là phép tàng hình, dùng máu chó thì phá phép. Vu-công nghe lời sắm sửa sẵn sàng qua tới nơi, tên thầy bói cũng tàng hình như trước. Vu-công lấy máu chó rảy lối chỗ lão thầy bói đứng, liền thấy mặt mày nó vấy những máu chó, con mắt nó lườm lườm như quỉ, bèn bắt trói lại đem nộp cho quan hành hình.


42. — sự tích cũ.

Ông Mẩn-công đi tuần phủ Hà-nam, gặp ăn cướp qua lục ghe, đáo soát nội ghe không có một vật gì quí, nó lục lưng ông ấy, thấy có một cái đai vàng của vua ban, nó chê ông tuần phủ nghèo không nỡ lấy.

Ông Trần-văn-khanh về hưu trí, một bữa ăn cướp tới nhà phá rương mở tủ, kiếm không có một món gì, ông Trần-văn-khanh năn nĩ nói với chúng nó rằng: anh em đêm hôm lặn lội tới đây, không có vật chi xứng đáng mà lấy cũng ngặt, thôi già còn năm ba cuốn sách rách, xin anh em chịu khó lấy đở đem về dạy con cháu. Ăn cướp nghe nói, kéo nhau ra đi.


43. — huình sanh.

Huình-sanh là con nhà sang trọng, học hành giỏi có chí khí lớn, hay giao du với một ông thầy chùa ở ngoài làng, tình ý hiệp nhau. Chẳng khỏi bao lâu thầy chùa đi vắng, cách hơn mười năm mới trở về, thấy họ Huình bèn than rằng: tưởng nhà ngươi đã đắc lộ, hay đâu hãy còn im trệ, trong thế phước mạng nhà ngươi bạc lắm, thôi để ta lo với âm phủ cho, chẳng biết nhà ngươi có chạy đặng mười ngàn chăng? Huình sanh nói chạy không đặng. Thầy chùa biểu chịu lấy nữa, còn nữa để thầy giúp, hẹn ba ngày phải cho có. Huình-sanh chịu, về cầm đồ đạc, chạy hết sức mới được phân nữa ấy. Cách ba bữa thầy chùa đem đủ năm ngàn giao cho Huình-sanh. Thuở ấy, bên nhà Huình-sanh có một cái giếng sâu múc hoài nước không cạn, người ta nói giếng ấy thông với sông biển vân vân. Thầy chùa biểu Huình-sanh bó tiền để một bên giếng, dặn rằng: chừng nào thầy ra chùa, hãy xô xuống giếng, đợi chừng sôi nồi cơm, thấy có một đồng tiền nổi lên, thì phải lạy đồng tiền rồi sẽ đi. Huình-sanh không hiểu là chước gì, nghĩ lại nghiệm không cũng chưa chắc, mà mười ngàn trước mắt bỏ đi cũng uổng, mới lấy có một ngàn mà bỏ xuống giếng, còn chín ngàn thì giấu đi. Giây phút nước nổi bọt lên to, rả ra nghe như tiếng đồng, liền có đồng tiền nổi lên trên mặt nước, lớn bằng cái bánh xe. Huình-sanh thất kinh lật đật lạy, rồi lại lấy bốn ngàn nữa mà bỏ xuống, nghe tiếng rổn rảng; té ra mắc đồng tiền lớn nằm cản ngang, tiền nọ không xuống nước. Trời gần tối thầy chùa tới quở, trách sao không bỏ hết. Huình-sanh dối rằng đã bỏ sạch. Thầy chùa nói rằng: sứ âm phủ đem có một ngàn đi, còn nói dối làm sao. Huình-sanh tức mình phải thú thiệt, thầy chùa than rằng: đại để những người bỏn sẻn thì chẳng có chí khí lớn, ấy là mạng số nhà ngươi, làm tới bậc Minh-kinh mà hết, bằng không thì đã hiễn vang rồi. Huình-sanh tiếc lắm, này nĩ thầy chùa làm phép một lần nữa. Thầy chùa không chịu hẵn mà đi. Huình-sanh coi dưới giếng thấy tiền còn nổi, lập thế dòng dây vớt lên, đồng tiền lớn bèn chìm đi mất. Năm ấy Huình-sanh đậu phó bảng rồi thì kế chết, y như lời thầy chùa nói.


44. — đông phương sóc.

Vua Hán-vỏ đãi yến quần thần, nhơn vui nói qua sách tướng rằng: nhơn trung ai dài một tấc, thì hưỡng thọ được trăm năm. Ông Đông-phương-sóc chầu một bên vùng cười rè, quan hữu tư tâu rằng ông ấy không cung kính. Ông Đông-phương-sóc cất mảo chịu tội mà rằng: kẻ hạ thần không dám cười bệ hạ, thật tình cười ông Bành-tổ mặt dài. Vua phán hỏi, ông Đông-phương-sóc tâu rằng: trong sách nói ông Bành-tổ sống tới tám trăm tuổi, kính vưng lời bệ hạ dạy, thì môi trên ông Bành-tổ phải thòng thòng tám tấc, suy ra thì mặt ông ấy phải dài hơn một trượng. Ông Vỏ-đế nghe nói cũng tức cười.


45. — công giã trường.

Công-giã-trường là người nước Lổ cũng là học trò đức Khổng-tử, hiểu biết tiếng chim, nhà nghèo ở không nhưng, không có mà ăn cho đủ. Một bữa chim bay tới nhà ông ấy mà kêu rằng: Công-giã-tràng, Công-giã-tràng, cọp bắt dê núi Nam-san, người ăn thịt ta ăn gan, chóng theo bổi chớ dùng dằng. Công-giã-trường đi tới núi quả bắt đặng con dê đem về làm thịt ăn. Chẳng dè chủ mất dê đi đánh dấu được sừng dê tại nhà Công-giã-trường, bèn đi cáo với ông Lổ-công, vu cho Công-giã-trường rằng ăn trộm. Công-giã-trường thưa thiệt, Lổ-công không tin tiếng chim, bắt Công-giã-trường bỏ vô khám. Đức-Khổng-tử biết Công-giã-trường là người ngay thiệt, đi minh oan, mà Lổ-công cũng không tha. Đức Khổng-tử than rằng: ở chốn ly tiếc lẽ đâu không có người ngay mà mắc nạn. Chẳng khỏi bao lâu con chim ấy lại bay tới cữa khám mà kêu rằng: Công-giã-tràng, Công-giã-tràng, người nước Tề đem binh sang, sông Nghi thủy ở đầu đàng, kíp ngăn ngừa chớ nghi nan. Công-giã-trường nói lại với quan đề lao chạy tờ cho ông Lổ-công sai người thám, quả có binh nước Tề qua lấn bờ cỏi. Lổ-công mới tha Công-giã-trường; cấp nhiều tiền bạc lại muốn phong cho làm bậc Đại-phu, Công-giã-trường hổ vì nhờ tiếng chim, không dám chịu.

Bình luận chương 8

Chưa có bình luận

Hãy là người đầu tiên nói cảm nhận về chương này.