Chương 2: Truyện số 8 đến 15
8. — mơ tưởng việc không có.
Xưa có một người tới số phải đi đầu thai, nài vua Luân-hồi phải у như lời xin thì mới chịu đi. Vua Luân-hồi hỏi xin làm sao, người ấy tâu xin cho: cha làm Thượng thơ con Trạng nguyên; quanh nhà ngàn khoảnh nhứt hạng điền; ao sâu vườn rộng loài loài sẵn; vợ tốt hầu xinh thảy thảy hiền; đầy nhà vàng ngọc cùng gạo lúa; dẫy tủ giẻ hàng với bạc tiền; mình ngồi phẩm nhứt trong thiên hạ; an hưỡng vinh hoa thọ bách niên. Vua Luân-hồi nói quả có kiểng vui dường ấy, thì chẵng hết cho trẩm đi, có đâu cho tới nhà ngươi.
Có mấy người anh em bạn ngồi nói chơi, hỏi ý nhau muốn làm sao? Có người nói ý mình muốn vàng bạc cho nhiều; có người nói ý mình muốn làm quan Thứ sử Quảng-lăng; có người nói ý mình muốn cỡi hạc mà lên cõi tiên. Người thứ tư nghe các người ấy nói như vậy, thì cười mà rằng: ý tôi muốn cột tiền lưng mười vạn, cỡi hạc mà lên cõi Dương-châu.
Người bày chuyện bàn rằng: con người sanh ra ở đời chẳng có sự chi bền chắc; nếu mình có ý vọng tưởng, thì chi bằng cầu cỡi hạc mà lên cõi tiên.
Chuyện khiển sầu.
9. — nói mị.
Có một người hay nói thù phụng, đi viếng một ông huyện, vừa vào tới dinh thì khen rằng: quan huyện nhơn đức, thú dữ cũng phải cảm mà tránh đi phương xa; bữa qua tôi vào tới địa hạt, tôi thấy cọp kéo nhau cả bầy mà đi sang phía bắc. Quan huyện nghe tiếng nói mị thì không ưa, nhưng vậy cũng gượng gạo làm vui mà tiếp khách. Cách một hồi làng tới báo rằng đêm bữa qua cọp ăn hết ba mạng, xin quan huyện truyền quân ví bắt cho kíp, kẻo nó ăn hết thiên hạ. Ông huyện hỏi nhơn sao làng nói một thế, thầy nói một thế? Người bạn hữu cười mà nói gượng rằng: trong thế các ngài bắt người ta theo dọc đàng đó.
10. — chuyện mình thì quáng.
Vợ ngươi Hứa-doãn có đức hạnh mà kém bề nhan sắc, Hứa-doãn hỏi: Nghe nói đờn bà có bốn đức, mà cô có mấy? Người vợ trả lời rằng: tôi kém có một bề nhan sắc mà thôi chớ, tôi nghe con nhà học trò có trăm hạnh, vậy cậu có bao nhiêu hạnh? Hứa-doãn nói: hạnh nào tôi cũng đủ. Vợ rằng: người ta có một bịnh là không biết mình, cậu ham nhan sắc hơn đức hạnh, sao cậu dám nói rằng đủ? Hứa-doãn nghe nói liền hổ thẹn, từ ấy mới thật lòng kính thương vợ cho đến trọn đời.
11. — anh em ruột giành gia tài.
Hai anh em thằng Mít chia gia tài giành lộn với nhau, đi mời xả trưởng phân xử. Chú xả cũng biết một hai câu chữ, tới tại nhà hỏi hai anh em bất bình với nhau làm sao? Người anh nói em tham, chia nhiều mà còn chê ít; người em nói anh muốn giành lấy một mình. Chú xả nói cả hai anh em không biết đều, trong sách có nói: chẳng lẽ coi tiền của hơn anh em, sao không biết xét mà đi giành xé với nhau cho mất sự thuận hòa trong gia đạo, lại làm cho mất thói lịch sự trong xóm làng; vã lại lời tục có nói rằng: đống trấu nhà chẳng để cho gà người bươi. Hai anh em phải tính cho êm với nhau thì là hơn. Hai anh em nghe nói bèn an lòng chia chác với nhau xong xuôi.
Cách ít ngày tới việc chú xả, người em chú xả cũng lấy sự chú xả tham muốn giành phần nhiều, mà đi kiện tới tổng. Hai anh em chú xả lại so đo hơn thiệt ngầy ngà với nhau quá hơn hai anh em thằng Mít. Hai anh em thằng Mít hay đặng mới đi hỏi chú xả: chớ sao ngày trước nhằm việc vuối tôi, thì cậu trưng sách vở mà giải hòa, nay tới việc cậu, coi ý cậu so đo ngầy ngà quá vuối tôi, vậy thì tình cốt nhục cùng phép lịch sự cậu ở đâu? Tên xả nói: ngày trước là việc các chú, gia tài cũng là của các chú, các chú hơn thua với nhau chẳng động gì đến tôi, cho nên tôi nói phải; chớ việc bây giờ là việc anh em tôi, gia tài cũng của anh em tôi, tôi không nói thì đau lòng, tức mình tôi phải nói; huống chi xử việc có kinh có quyền, ngày trước việc các chú là chánh kinh, ngày nay việc vuối tôi là tùng quyền, có khi dùng sách có khi bỏ sách.
12. — Vẽ hình vay bạc.
Tên Giáp túng xài tới nhà anh em bạn mà hỏi tiền. Người anh em bạn chịu cho, mà nài phải làm giấy. Tên Giáp lật đật về làm giấy đem qua, mà đứng giấy có một mình. Anh em bạn hỏi sao chị không đứng vào cho vui? Lại rằng: anh em mình vuối nhau, khi anh túng khi tôi túng, đặt ra làm giấy cho có chừng, để phòng khi tôi túng, anh nhớ mà trả, chẳng phải tôi bắt nhặt anh trong đều ấy. Tên giáp mau mau về hối vợ điểm chỉ vào giấy, đem qua cho anh em bạn. Người anh em bạn coi giấy, ngẩm nghĩ một hồi lâu rồi lại nói rằng: giấy nầy, anh làm có ngày có tháng, vốn lời, giao ước chắc chắn, mà ngặt chưa nhằm ý tôi. Tên Giáp hỏi ý anh muốn làm sao? Người anh em bạn nói ý tôi muốn cho anh mua một tờ giấy kinh huyện cho lớn, rồi rước một tên thợ vẽ cho khéo. Tên Giáp hỏi mua giấy lớn, rước thợ vẽ cho khéo mà làm gì? Anh em bạn nói tôi thấy thuở nay ai nấy vay hỏi, thì cũng làm giấy như anh, song đến khi trả thì thường có đều khó lòng, không phải thế; cho nên ý tôi muốn cho anh mua giấy lớn, rước thợ vẽ khéo mà vẽ một tấm tượng cho y như chuyện hôm nay: là vẽ anh tới hỏi tiền tôi thì vui vẻ; vẽ tôi cho anh cũng vui vẻ; vẽ đến khi đủ ngày tháng tôi đòi, anh trả cũng vui vẻ, đừng có cái mặt bò hung.
13. — chuyện vương-thập.
Tên Vương-thập là dân ở đất Cao-uyễn, đi vác muối lậu ban đêm gặp hai người đi đàng, ngỡ là quân canh ở hản muối, lật đật quăng bao muối mà chạy; chẳng dè cóng chơn muốn chạy mà chạy không đặng, liền bị hai người ấy bắt, năn nĩ xin tha. Hai người ấy nói: ta chẳng phải là người ở hản muối, vốn ta là quỉ. Thập sợ nói: có bắt thì cho tôi về nhà từ giã vợ con. Quỉ không cho, nói bắt mầy đây chẳng phải là bắt chết, chẳng qua là bắt đi làm xâu đở ít ngày mà thôi. Thập hỏi đi xâu việc gì? Quỉ nói dưới đền Diêm-la, sông Nại-hà ứ lại, mười tám hầm phẩn tràn trề, cho nên phải bắt ba thứ người vét; còn bắt mấy đứa ăn cắp vặt, mấy đứa đánh xỏ lá, cùng những đứa bán muối lậu để mà rửa nhà xí. Tên Thập đi theo quỉ vào thành, tới một cái đền thấy vua Diêm-la ngồi trên ngai mà tra bộ. Quỉ vào gỡi nói có bắt đặng một đứa buôn muối lậu tên là Vương-thập. Vua Diêm-la ngó Thập giận mà nói rằng: Hễ bán muối lậu thì trên trốn thuế vua, dưới sâu mọt dân, mới gọi là bán muối lậu; chớ như những đứa các quan tham lam, hản buôn gian gião chỉ là đứa buôn lậu, cả thảy là dân lương thiện nghèo nàn, liều một hai đồng vốn kiếm một hai đồng lời, thì chẳng lẽ gọi là đứa buôn lậu. Khi ấy vua Diêm-la quở hai thằng quỉ, bắt phải mua bốn đấu muối, lại lấy bao muối tên Thập quăng dọc đàng đem để tại nhà tên Thập; còn Tên Thập thì cầm ở lại, giao cho nó một cây hèo, dạy nó phải theo quỉ mà đốc việc vét sông. Quỉ dắc Thập tới bên sông Nại-hà, thấy người ta lúc nhúc dưới sông như giòi, còn nước thì thâm đen mà đục ngàu, lại gần thúi tha chịu không nổi. Những người vét sông thì trần truồng, cầm ki cầm mai, hụp lên hụp xuống dưới sông, hốt những thây ma xương mục, đầy ki trạc liền khiêng đội mà lên, chỗ sâu lút đầu cũng phải lặn; có ai làm biếng thì Thập phải lấy hèo mà đánh. Các người đồng coi việc, đều ngậm một hoàn thuốc thơm, để mà chịu với mùi thúi. Xảy thấy có ông hản muối ở Cao-uyên cũng loi ngoi dưới sông, Thập cứ làm dữ với ông ấy, xuống sông thì đập lưng, lên bờ thì khẻ chơn; ông ấy sợ cứ dưới hụp nước chừa có hai lổ mũi, Thập mới thôi đánh. Cách ba đêm ngày dân phu chết hết phân nữa, công việc vét sông cũng hoàn thành. Hai thằng quỉ trước mới đưa Thập về nhà, bèn hồi tỉnh mà sống lại.
Duyên ngày trước tên Thập đi vác muối chưa về, sáng ngày vợ mở cữa, thì thấy có hai bao muối để tại nhà. Vợ đợi Thập lâu không thấy về, cho người đi kiếm, thì gặp Thập chết giữa đàng; khiêng đem về nhà, Thập hãy còn một chút hơi thở, ai nấy đều lấy làm lạ không hiểu làm sao, đến khi Thập sống lại mới học các chuyện. Còn tên hản muối chết trong ba ngày trước, đến khi ấy cũng sống lại, mấy chỗ Thập đánh đều hóa ra ung độc lỡ lói thúi tha, không ai dám lại gần. Thập cố ý tới thăm, tên hản muối ấy ngó thấy Thập, cũng còn hơi sợ, thụt đầu vào mền, in như hồi còn ở dưới sông Nại-hà. Tên hản ấy đau một năm mới lành, không dám lảnh việc buôn muối nữa.
Sách Dị-sữ nói rằng: xét một vụ muối thuế, Triều đình gọi rằng lậu, chính là những người chẳng cứ nơi công; còn quan tham ô cùng kẻ buôn xảo trá gọi rằng lậu, thì là những người chẳng cứ nơi tư.
14. — tích cọp lạy.
Đất Lư-khê có người siêng năng ham học, thông kinh sữ, ở với cha mẹ rất hiếu thảo. Đời Hồng-vỏ năm đầu, học trò ấy đi học phương xa, qua tới mùa đông thường hay về thăm cha mẹ. Một lần y đi về vừa tới một cái khe, gặp cọp nhảy ra đón đàng, y sợ không biết tránh đâu cho khỏi. Cọp làm bộ cúi đầu như lạy, rồi sẽ lén lại cắn áo y mà kéo. Y đi theo tới rừng rậm, cọp nhả áo mà ngồi, y tỉnh lại cũng ngồi ngang với cọp mà nói rằng: mi là cọp, lẽ nào mi không ăn tao, tao chết vì mi, tao chẳng tiếc, ngặt cha mẹ tao già hơn bảy mươi tuổi, mi dung tao thì tao mới báo hiếu cho cha mẹ tao đặng; như số tao phải cọp ăn, thì sau tao cũng không khỏi miệng mi. Cọp nghe nói liền đứng dậy, kéo vạc áo y mà đem lại chỗ cũ, rồi bỏ đó mà đi. Chỗ ấy người ta kêu thành danh là chỗ cọp lạy.
15. — chuyện cảnh thập bát.
Đất Tân-thành có tên Cảnh-thập-bát đau nặng biết mình không lẽ sống, bèn nói với vợ rằng: chầy kíp đây phải lìa nhau, tao chết rồi, lấy chồng hay là ở vậy mặc ý mầy; nhưng vậy mầy phải nói cho tao biết ý mầy muốn làm sao. Vợ làm thinh không chịu nói, tên Cảnh cứ hỏi hoài, lại nói: ở vậy là hay mà lấy chồng cũng là sự thường, muốn làm sao thì nói, chẳng hề chi mà sợ; tao lìa mầy, mầy giữ tiết thì bằng lòng tao, mầy có lấy chồng khác thì tao hết đều tưởng nhớ. Vợ buồn bực mà nói rằng: nhà nghèo sạch trơn như chùi, anh sống hãy còn bữa đói bữa no, biểu tôi giữ tiết làm sao cho đặng! Tên Cảnh nghe nói liền nắm cánh tay vợ mà hét lên rằng: đành đoạn chưa! Vừa dứt tiếng liền tắt hơi, nắm cứng cánh tay vợ không buông. Vợ la lên, người nhà chạy vô, trì gở hết sức mới buông.
Cảnh không dè mình chết, chạy ra ngoài cữa thấy hơn mười cổ xe, mỗi cổ là mười người, liền lấy một miếng giấy viết tên dán trên xe, người dẫy xe thấy Cảnh, hối Cảnh lên xe cho mau. Cảnh coi trong xe đã có chín người, đếm cả Cảnh là mười, lại thấy tên mình dán sau rốt, xe đi rầm rầm, cũng chẳng biết là đi đâu. Cách một hồi đi tới một chỗ nghe người ta nói là đất tư-hương, Cảnh sanh nghi, vã nghe mấy người dẫy xe nói nhỏ với nhau rằng: hôm nay sẽ chém ba người, Cảnh lại sợ lắm; nghe kĩ thì là tiếng quỉ nói, Cảnh mới biết mình đã thành quỉ rồi; nghĩ lại việc nhà còn có một mẹ già, sợ mai sau vợ mình cải giá, ắt là không ai phụng dưỡng, nước mắt chảy ra ròng ròng. Cách một chặp ngó thấy một cái đài cao vọi vọi, thấy người ta mang trăng xiềng kêu khóc, lên xuống từ đoàn, nghe nói là đài Vọng-hương. Ai nấy tới đó đều rùng rùng xuống xe, mấy người dẫy xe đánh đón làm hung dữ, tới Cảnh thì lại hối lên mà thôi. Cảnh lên đặng ba bốn mươi bậc, tới chỗ chót vót, ngó mông ra, thì nhà cữa người ta ở trước mắt, ngó nhà mình thì mù-mù, lấy làm thương nhớ quá chừng.
Khi ấy có người bận áo cụt đứng một bên Cảnh, hỏi tên họ Cảnh, Cảnh bày tên họ. Người ấy nói mình là thợ mộc ở Đông-hải, thấy Cảnh chảy nước mắt, hỏi có chuyện chi không an trong lòng, Cảnh bèn nói thiệt. Tên thợ mộc rủ Cảnh nhảy xuống mà trốn, Cảnh sợ quỉ theo bắt, tên thợ nói không hề gì; Cảnh lại sợ đài cao nhảy không thấu, tên thợ biểu cứ việc nhảy theo. Vậy tên thợ nhảy trước, Cảnh nhảy theo sau, tới đất không có làm sao cả hai. Cảnh sực nhở tên mình còn dán trên xe, liền trở lại thấm nước miếng bôi tên, rồi lại chạy miết dài không dám dừng chơn; cách một hồi tới xóm vào nhà thấy thây chưa liệm, bèn nhập vào mà sống lại. Cảnh la khát nước, cả nhà đều kinh hãi, đổ thang thuốc cách ít ngày mà mạnh. Từ ấy Cảnh dứt tình không thèm ăn ở với vợ nữa.
Chưa có bình luận
Hãy là người đầu tiên nói cảm nhận về chương này.