Chuyện giải buồnChương 7: Truyện số 35 đến 39
Nền
Cỡ chữ
20px
Phông chữ
Giãn dòng

Lựa chọn được ghi nhớ cho lần đọc sau.

Chuyện giải buồn · Huỳnh Tịnh Của

Chương 7: Truyện số 35 đến 39

2.378 chữ · Đăng 20/10/2026

35. — sự tích con bàn bào.

Trong sách Sưu-thần-kí có nói rằng: đời vua Cao-tân, có tên Phòng-vương làm loạn, quan binh đi đánh nhiều trận thất lợi. Vua Cao-tân mới chiêu mộ trong thiên hạ ai lấy đặng đầu Phòng-vương, thì sẽ phong cho làm thiên hộ hầu, lại gã con cho nữa. Thuở ấy vua Cao-tân có nuôi một con chó hay theo vua ra vào, lông năm sắc đặt tên là Bàn-bào. Một bữa con chó ấy đi đâu mất không ai kiếm tìm được. Chẳng dè nó thoát qua bên Phòng-vương, Phòng-vương biết là chó vua nuôi. liền dọn yến tiệc nổi ca nhạc vui mầng với con chó. Phòng-vương uống rượu say nằm ngũ mê, con chó lén vào cắn cổ, rút lấy đầu Phòng-vương tha chạy về bỏ trước đền. Vua Cao Tân thấy quả là đầu Phòng-vương, mầng lắm, dạy cho nó ăn cơm thịt cùng đồ mỉ vị, con chó không ăn nằm dài tới đôi ba bữa. Vua Cao-tân coi ý con chó nằm vạ, phong cho con chó làm Cối-kê-hầu, gã năm gái tốt, cho ăn lộc một ngàn nóc gia. Con chó thấy vua không thất ước, mầng chờ dậy ăn uống như thường. Đến sau nó đẻ ra ba trai sáu gái, tuy giống người ta mà dưới đít có đuôi, nối sanh ra một nước gọi là Mọi Khuyển-nhung.


36. — chuyện một vì tướng quân.

Ông Tra-y-huỳnh là người Tích-giang, tiết thanh minh đi dạo chơi ngoài đồng, vào một cái chùa, thấy trước tiền đường có để một cái chuông xưa lớn hơn ghè mái, trên dưới có dấu đất dấu tay mới ràng ràng. Họ Tra nghi dòm phía dưới, thì thấy có một cái thúng lớn, không biết đựng giống gì, biểu nhiều người nắm quai chuông mà dở lên, thì không nhúc nhích. Họ Tra lấy làm lạ ngồi rót rượu uống, đợi coi có ai về mà dở chuông ấy ra. Một hồi có một người ăn mày vào, ôm những đồ đi ăn xin, để một bên chuông, rồi một tay dở chuông một tay bỏ đồ ăn vào trong thúng; dở lên để xuống hai ba bận, dồn hết đồ ăn vào thúng, rồi bỏ đi ra. Giây lâu lại trở về dở hé lấy đồ ăn, nhẹ nhàn cũng như mở tủ. Ai nấy lấy làm kì, họ Tra hỏi: chú mạnh mẽ dường ấy, sao còn đi xin ăn? Tên ăn mày nói mình ăn nhiều quá cho nên không ai dám mướn. Họ Tra khuyên biểu đi ở lính, tên ăn mày nói sợ không ai dùng. Họ Tra đem tên ăn mày về nhà, cho ăn uống thì sức ăn bằng năm sáu người, cho quần áo lại với năm mươi đồng tiền mà đưa đi.

Cách hơn mười năm, cháu họ Tra ngồi tri huyện tại đất Mân, xảy có một vì tướng quân tới viếng. Hai đàng đàm đạo, vì tướng quân hỏi ông huyện có biết ông Y-huình chăng? Ông huyện nói là chú họ; lại hỏi nhơn sao tướng quân biết ông Y-huình. Vì tướng quân nói ông ấy là thầy, xa nhau hơn mười năm, lòng hằng tưởng nhớ, xin gởi lời cùng thầy qua chơi một chuyến. Ông huyện nghĩ chú mình là người văn thơ, sao lại có học trò võ, cũng ừ gọi là. Sau có ông Y-huình tới, ông huyện học lại, Ông Y-huình quên lững không biết là ai, mà bỡi vì tướng quân trao lời cặn kẻ, liền dạy bắt ngựa đi tới cữa ông tướng quân. Ông tướng quân thấy giấy thiếp đưa vào, vội vã chạy ra hầu rước ngoài cữa ngỏ. Ông Y-huình nhìn coi lạ đặc, ngờ là ông tướng quân lầm, mà ông tướng quân lại càng khiêm nhượng, rước khách vào ba bốn vọng canh. Ông Y-huình thấy các con hầu lăng xăng, biết là nhà trong, dừng chơn không dám bước, ông tướng quân lại cúc cung xin vào, đứa cuốn rèm, người dọn ghế đều là con hầu. Ông Y-huình ngồi xuống xắm rắm hỏi thăm, liền thấy có đứa đem đồ triều phục cho tướng quân bận vào, xóc sửa ngăy thẳng, lại dạy ít đứa hầu sửa soạn cho ông Y-huình ngồi lên ghế trên chính đính, rồi ông tướng quân mới xuống múa lạy như thể chầu vua. Y-huình sửng sốt không biết chuyện gì. Ông tướng quân bái lễ tất, thay áo thường ngồi đãi, cười mà nói rằng: thầy không nhớ tên ăn mày dở chuông sao? Họ Tra mới nhớ sực chuyện hơn mười năm. Ông tướng quân dọn yến tiệc thết đãi ân cần, lo cho tới giấc ngủ. Họ Tra thấy tướng quân trọng hậu, ăn ngồi không yên, xin trở về, tướng quân không cho, cứ việc kiểm điểm gia tài, của cải, tôi mọi, lừa ngựa, dạy biên ra cả thảy. Một bữa ông tướng quân nói với họ Tra rằng: tôi làm nên thiệt nhờ thầy, nay gia tài của cải thảy thảy mọi món, tôi chia ra làm hai, một nữa để dành cho thầy, ấy là của thầy tôi không dám hưởng dùng một mình. Họ Tra không chịu, ông tướng quân không nghe, dạy tớ trai mọi gái phân nhau sắp dọn bắt ngựa lừa chuyên chở của cải rần rần một lủ đưa họ Tra về. Sau họ tra can án về việc tu sữ mất chức cũng nhờ sức quan tướng quân mà đặng khỏi.


37. — bàn chiêm bao.

Có một người nằm chiêm bao thấy mình hóa ra con chó cỏ, không biết lành dữ thể nào, tới thầy bói, xin bàn giùm. Thầy bói bàn nói: điềm chiêm bao ấy khá lắm, ấy là điềm lộc thực, đến mai sẽ có người mời ăn. Tên đi bàn chiêm bao về, qua ngày mai quả có người mời ăn, mầng khoe khoang nói thầy bàn giỏi. Tên anh em bạn nghe được, trong ý cũng muốn kiếm ăn, toan nhận diện, chạy tới thầy bói nói bấc tử mình cũng thấy mình hóa ra con chó cỏ, họa may thầy có bàn cho là điềm lộc thực. Chẳng dè thầy bói bàn cho là điềm dữ, nói rằng: chú phải giữ mình, kẻo chúng xô chú xuống sông. Tên ấy bỏ ra về, ngẩm nghĩ trong mình rằng: mình nói láo, mà lảo thầy cũng bàn bậy, thôi để mai đây không có chuyện gì, mình sẽ qua mắng lảo thầy chơi; và đi và nói, không dè mình đã qua cầu, mà cầu thì chật hẹp có hai ba cái xe qua lại; chàng va ngó thấy xe đi khít một bên, lật đật tránh, sớn sác bước hụt lọt chủm xuống sông. Sáng ngày tên ấy tới hỏi ông thầy bói: anh kia thấy mình hóa ra chó cỏ, thầy đoán là điềm lộc thực cũng nhằm, còn tôi cũng ngó thấy như vậy, thầy lại đoán phải té xuống sông, mà cũng không sai, sao cũng thì chiêm bao, mà có người may người rủi thể ấy? Thầy bói nói rằng: người ta chiêm bao thiệt, người ta được điềm lành, chú mắc chiêm bao giả, cho nên cũng khiến cho thầy bàn không sai. Trong sách có nói rằng: thổ long sô cẩu linh ư vị đảo chi tiền, mà bất linh ư kí đảo chi hầu, nghĩa là rồng đất chó cỏ có linh là hồi chưa đảo vỏ, chớ đến khi đảo vỏ rồi thì chẳng còn linh gì nữa. Vậy hễ cầu đảo việc rồi thì bao nhiêu chó cỏ người ta đều quăng xuống sông. Bỡi đó con chó cỏ người ta thấy trước, còn đương linh, còn có đồ cúng cấp, chí như con chó chú đặt đều nói thấy sau, không ai còn dùng, cho nên chú phải xuống sông.


38. — trồng lê.

Một người nhà quê chở lê ra chợ mà bán, giống lê thơm ngọt bán được tiền, xảy có một thầy đạo sĩ áo quần lang thang tới trước xe mà ăn xin, người nhà quê đuổi không đi, giận chưởi mắng nhiều tiếng. Thầy đạo sĩ rằng: lê cả xe, già xin có một trái giá đáng bao nhiêu mà chú làm bộ giận dữ thể ấy! Ai nấy biểu người bán lê coi trái nào xấu xấu cho lảo già một trái, cho lảo đi đi, tên bán lê không chịu cho. Tên trùm chợ thấy ngầy ngà, bèn lấy tiền mua một trái cho thầy đạo sĩ, thầy đạo sĩ lạy tạ, lại nói với ai nấy rằng: ta tu trì, ta chẳng biết tiếc của là cái gì, thôi ta cũng có lê quí, ta xin đem ra mà cho mọi người ăn. Có kẻ nói: như thầy có lê, thầy còn xin làm chi. Thầy đạo sĩ nói: ta có ý kiếm hột mà trồng bây giờ. nói rồi liền cắn trái lê mà ăn, còn hột thì nắm trong tay, lấy ra một con dao đào lổ sâu hai ba tấc, bỏ hột lê xuống dập đất lại, biểu hàng phố đem nước nóng mà tưới. Có người cắc cớ xin nước sôi đem ra, thầy đạo sĩ lấy đổ ngay xuống lổ trồng lê. Ai nấy chăm chỉ coi, thấy lê đội đất mọc lên, giây phút thành một cây lớn nhánh nhóc sum sê, nở hoa sinh trái lớn đại thơm ngát, hoằng hoại một cây. Thầy đạo sĩ cứ từ chót vót hái xuống, hái đặng bao nhiêu liền phân chia cho mấy người coi ăn. Hái hết trái rồi liền lấy dao đốn cây lê, nghe tiếng dao chạc chạc một hồi cây ngã, thầy đạo sĩ bèn kéo cả cây thủng thỉnh mà đi. Té ra hồi thầy đạo sĩ trồng lê, người bán lê cũng chen vào coi với thiên hạ, quên phứt xe lê. Thầy đạo sĩ đi rồi, anh ta mới ngó lại, thì lê mất hết không còn một trái, mới biết thầy đạo sĩ lấy lê mình phân phát cho thiên hạ ăn. Coi trên xe đứt mất hết một cái nài xe, dấu chặc còn ràng ràng; anh bán lê nổi xung chạy theo, ra tới góc tường thấy nài xe bỏ đó, mới biết thầy đạo sĩ đốn lê là chặt cái nài ấy. Thầy đạo sĩ đi đâu không biết, tên bán lê ngơ ngẩn, cả chợ đều cười.


39. — đạo bạch liên.

Người đạo Bạch-liên, nguyên ở Sơn-tây, không ai nhớ tên họ, vốn là người hay dùng tà thuật dị đoan, có nhiều người ái mộ theo làm học trò. Một bữa người ấy sắm sửa đi xa, lấy ra một cái chậu để giữa nhà, trên có chậu úp, dặn học trò đừng dở ra mà coi. Người ấy đi rồi, học trò tọc mạch dở chậu ra, thì thấy đựng nước lả, trên mặt nước có một chiếc ghe đươn bằng cỏ, bườm chèo sẵn sàng. Học trò cắc cớ khoát nước, chiếc ghe nhảy lên nhảy xuống hòng nghiêng úp, học trò sợ vịn chiếc ghe rồi đậy lại như cũ. Giây lâu thầy về làm mặt giận quở học trò sao không vâng lời. Học trò đều thưa không có chuyện chi không vâng lời. Thầy nói khi nảy tao ở ngoài biển ghe gần chìm, nói dối tao làm sao. Lần khác ban đêm thầy đi chơi, để một cái đèn lớn giữa nhà, dặn học trò giữ, đừng để gió tắt. Qua canh hai thầy không về, học trò buồn ngủ nằm vật dọc ghế, lúc dậy thì đèn tắt, lật đật đi thắp. Kế thầy về quở. Học trò nói: chúng tôi có ngủ ở đâu mà bỏ đèn tắt. Тhầy nói: bay để tao đi thầm hơn mười dặm, mà hãy còn chối. Học trò thất kinh; người ấy làm nhiều chước lạ như vậy kể chẳng xiết. Sau vợ bé thầy tư tối với học trò, thầy hay mà không nói. Một bữa thầy biểu tên học trò đi cho heo ăn, tên học trò chun vào chuồng liền hóa ra con heo, thầy kêu hàng heo bắt làm thịt bán ngoài chợ, mà không ai biết. Cách ít ngày cha tên học trò không thấy con về, qua hỏi, thì thầy nói nó không tới. Cha tên học trò hỏi thăm khắp chỗ, không có tin tức gì. Xảy có một tên học trò bạn hay được chuyện ấy nói đi nói lại, cha tên học trò bị giết mới phát đơn đi kiện tại huyện. Ông huyện sợ lão thầy có phép độn không dám bắt, chạy tờ bẩm xin quan trên cho quân lính cho đông mà vây nhà lão thầy, bắt cả vợ con bỏ vào củi giải qua tỉnh thành, đi ngang qua núi Thái-hành-sơn. Chẳng dè trong núi có một người cao lớn dị thường, sầm sầm đầu ngang ngọn cây, con mắt bằng cái bát cô tô, miệng bằng trang cái ảng, nanh dài một thước, đứng trước đầu đường, quân lính kinh sợ không dám đi. Lão thầy nói nó là yêu, vợ tôi trừ nó mới được. Quân lính nghe lời mở trói, vợ lão thầy vác giáo ra, người kì dị ấy nổi giận táp một miếng mất xác. Ai nấy cũng kinh hãi, lão thầy nói nó đã hại vợ tôi, thì phải cho con tôi ra, quân lính thả con lão thầy ra, con cũng bị nuốt như mẹ vậy. Ai nấy thất sắc, không biết làm sao, lão thầy giận khóc nói nó đã hại vợ tôi rồi lại hại con tôi, chẳng lẽ nhịn đặng, phải có tôi ra cho tôi giết nó. Quân lính thả lão thầy, trao đao mác hối đi. Người giềnh giàng ấy hằm hằm xốc lại, đánh với nhau một lát, lão thầy liền bị nó nắm đặng bỏ vào miệng, trương cổ nuốt ngay vô bụng rồi cứ việc đi khoan thai.

Bình luận chương 7

Chưa có bình luận

Hãy là người đầu tiên nói cảm nhận về chương này.