Chương 4: Truyện số 22 đến 27
22. — chồn đất thơ thủy.
Ấp Thơ, họ Lý có một cái nhà vườn, xảy có một ông già tới mướn, chịu một năm là năm chục đồng bạc; họ Lý chịu cho mướn, nhưng bỡi lâu ngày không thấy ông già tới ở, bèn biểu đầy tớ cho người khác mướn. Qua ngày mai ông già tới nói: nhà mướn có giá, sao ông còn cho người khác mướn? Họ Lý nói tại ông để lâu, tôi nghi ông không mướn. Ông già nói tôi tính mướn lâu, cho nên để mà coi ngày, nói rồi liền đem năm chục đồng bạc mà giao trước, lại nói: dầu tôi có bỏ không cả năm, ông chớ nói tới. Họ Lý đưa ông già ra về, hỏi chừng nào dọn, ông già nói chừng chừng, cách hơn mười ngày cũng vắng vẻ. Đến khi họ Lý đi thăm nhà, thì cữa đóng chặc, thấy khói nấu ăn, nghe tiếng người ta chào rào mới lấy làm lạ; bèn viết thiếp đi mầng, ông già vội vã rước vào, trò truyện vui vẻ. Họ Lý trở về bèn sai người đem đồ cho, ông già cũng thết đãi cùng cho lại nhiều. Cách ít ngày họ Lý dọn ăn mời ông già, lần lần hỏi tới quê quán, thì ông già nói mình ở bên đất Tần. Họ Lý lấy làm xa xác. Ông già nói đất Tần sẽ mắc nạn to, không khá ở lâu dài, bây giờ coi thì thới bình mà ngày sau chưa biết ra làm sao, có một chỗ nầy là phước địa. Qua ngày sau ông già làm giấy tạ chỗ ở, dọn yến tiệc mời lại họ Lý. Họ Lý thấy màn trướng dọn dẹp sang trọng, thì lấy làm kỳ dị, tưởng là một vì quan lớn. Hai đàng ở với nhau một ngày một thân thiết, ông già mới nói thiệt mình là chồn; họ Lý sửng sốt, gặp ai nói nấy, các kẻ hào mục trong ấp nghe sự lạ, cũng đều tới cữa ông già, xin làm quen. Ai tới, ông già cũng lụm cụm đi tiếp rước, các quan tỉnh cũng thường tới lui. Có một ông huyện sở tại xin tới, ông già cứ kiếm đều từ chối; ông huyện cậy chủ nhà nói giùm, ông già cũng không chịu. Họ Lý hỏi cớ sự làm sao, ông già bèn xít lại gần mà nói nhỏ rằng: ông không biết kiếp trước y là lừa, coi đàng hoàng ở trên đầu trên cổ dân, song quả y uống nước hồ, y cũng say, tôi không phải loài người, tôi cũng không thèm làm quen với y. Họ Lý phải kiếm đều nói tránh rằng: ông già ấy sợ ông thần minh, cho nên không dám ra mặt với ông. Quan huyện tin, không đòi đến nữa; ấy là việc đời Khương-hy năm thứ 11. Chẳng khỏi bao lâu đất Tần mắc việc binh lửa, té ra có một mình con chồn già biết trước.
Sách Dị-sữ bàn rằng: con lừa hình dạng cao lớn, hễ có giận thì đá đạp, hầm hí, con mắt lộ bằng cái chén, hơi thở như bò, tiếng khó nghe, hình cũng khó coi, nếu lấy một bó cỏ mà dỗ, thì nó liền cúi đầu xủ tai, mặc ý người cột trói; người như vậy mà ở trên đầu dân, uống nước hồ cũng say là phải lắm. Kẻ trị dân lấy gương con lừa mà răn mình, lại cầu cho được tiếng khen con chồn, thì sẽ nên người đức hạnh.
23. — chuyện ông tấn sĩ lưng mọc lông dê.
Đất hiệp-hữu có một ông tấn sĩ hay nhớ việc kiếp trước. Ông ấy nói kiếp trước mình làm học trò, được nữa đời người mà chết, xuống âm phủ thấy vua Thập-điện đương có tra án, bày những lò vạc gớm ghiết, y như chuyện người ta nói trên đời; bên góc đền về phía đông, thấy những giá treo da dê, da chó, da trâu, da ngựa cùng các thứ da; thấy người coi bộ kêu tên từ người, hoặc bắt đi làm ngựa, hoặc bắt đi làm heo, quỉ đều lột trần truồng, lấy da trên giá mặc cho. Giây phút kêu tới tên ông tấn sĩ. Ông ấy nghe vua Thập-điện dạy đi làm dê, liền thấy quỉ lấy một cái da dê, bắt ông ấy lột trần, tròng vào khít rịt. Xảy có một tên thơ lại tâu nói ông ấy có cứu một người khỏi chết. Vua Thập-điện tra bộ lại quả có như lời, bèn trở giận làm vui mà rằng: tội ác nó thiệt quá lắm, song một việc lành ấy cũng cứu nó được. Vua Thập-điện nói rồi bèn dạy quỉ lấy da dê lại. Chẳng dè da dê đã dính vào trong thịt, cổi không ra, hai thằng quỉ phải nắm cánh tay ông Tấn-sĩ, đứa trì đứa lột, đau ông ấy quá chừng, da dê rách từ miếng, lột không sạch, bên vai ông Tấn-sĩ hãy còn dính một miếng lớn bằng bàn tay. Đến khi ông ấy sống lại, sau lưng có lông dê mọc vấy vá, cạo đi nó mọc lại không tuyệt.
24. — lập tự cho cháu.
Có một người bá hộ lớn tuổi mà không con; người em lại có hai đứa trai. Bá hộ thường nói với em, biểu cho một đứa mà lập tự. Vợ bá hộ nghe nói, không dám cải ý chồng, nhưng mà không bằng lòng, cứ đi chùa chuyền cúng cấp, vái Phật bà, họa may cho mình có con, kẻo ức tấm lòng. Người em nghe anh nói thì mầng, chíp lấy trong bụng. Chẳng khỏi bao lâu người bá hộ thọ bịnh nặng, cầu thầy chạy thuốc, sấm hối tụng kinh, vái trời vái phật, ếm quỉ trừ ma cũng chẳng ích gì. Bá hộ chết xuống, người vợ làm theo phép phật, tống táng đủ lễ. Giáp năm làm tiểu tường, người vợ rước một ông hòa thượng lớn làm chay, cầu cho chồng trực vãn Tây-phương-phật. Lệ làm chay: hễ nhà giàu rước thầy, phải có ba lễ, một lễ cúng tổ, một lễ trương tượng Thành, một lễ mầng thầy. Vợ bá hộ không thuộc ba lễ ấy, mà thầy cũng không đòi, hóa ra bỏ đi không làm. Đến khi làm đám gần rồi mà phần mả, ông hòa thượng làm hiểm, vái trẹo cho vong hồn trực vãn Đông-phương, không cho trực vãn Tây-phương. Vợ bá hộ lộng kính bắt hồn chồng mà hỏi, thì hồn chồng quả ở Đông-phương, lấy làm tức tối quá.
Qua đại tường người em bá bộ xin làm tuần thế, vợ bá bộ cũng đành để cho người em chồng làm, họa may có đổi cho chồng mình về Tây-phương chăng, cứ rước ông hòa thượng cũ. Thầy tới, người em bá bộ làm đủ ba lễ, mỗi lễ chịu một đồng bạc, thầy lấy làm bằng lòng, đến khi phần mả, thầy vái ngay cho vong hồn trực vãn Tây-phương. Người em lộng kính bắt hồn mà hỏi, thì hồn bá hộ được về Tây-phương rồi. Người em đắc ý nói với chị dâu rằng: nghĩ lại khi anh tôi còn sanh tiền, thường nói có chị nghe, là để sự nghiệp cho con tôi nối giữ, thì là đáng lắm, bỡi vì anh tôi biết cha con tôi giỏi, cho nên mới đành lòng phú thác. Vợ bá bộ tức mình nói: tuần chay trước tôi làm dở, tuần chay nầy chú làm lại hay gì? Chú nhờ có ba lễ ba đồng, cho nên chồng tôi được về Tây-phương, còn tôi làm trơn cho nên chồng tôi phải qua Đông-phương. Khác nhau có một sự có bạc cùng không bạc; có bạc lên trời cũng đặng, chẳng lựa là qua Tây-phương; may chồng tôi giàu, phải mà nghèo, cũng chẳng lẽ về Tây-phương được, có khi cũng không có em có cháu nữa.
25. — nợ không không trả.
Ông Lý-trước-minh, khẵng khái hay làm việc bố thí. Trong làng có một người tới ở mướn, mà tánh làm biếng, không biết việc làm ruộng đất, nghèo khô nghèo khiểng mà cũng có tài khéo léo; hễ có làm việc gì, ông Lý-trước-minh đều ưng bụng, trả nhiều tiền bạc, lỡ làng không gạo nấu, năn nỉ xin ông ấy liền cho. Có một bữa tên ở mướn ấy thưa với ông ấy rằng: kẻ tiểu nhơn chịu ơn ông hậu lắm, nhà ba bốn miệng ăn khỏi chết đói cũng nhờ ông; nhưng mà không lẽ nhờ đời, xin ông cho tôi vay một tạ đậu xanh để làm vốn. Họ Lý chịu cho, tên ấy lật đật gánh đậu đi, hơn một năm không thấy trả chi cả; hỏi ra thì vốn đậu đã sạch, họ Lý thấy vậy đem lòng thương không đòi. Cách ba năm họ Lý qua chùa đọc sách, nằm chiêm bao thấy tên ấy tới mà thưa rằng: tôi mắc tiền đậu ông, nay tôi tới mà trả lại cho ông. Họ Lý rằng: bằng tra nợ cũ, bắt chú phải trả, thì chú thiếu biết là ngằn nào! Tên ấy buồn mà nói rằng: thiệt quả như lời ông nói; con người ta có công việc làm mà chịu tiền ngàn cũng không phải trả, bằng chịu thinh không, dẫu một bát cơm cũng chẵng nên quên, huống chi là chịu ơn vô toán. Tên ấy nói rồi liền đi mất. Họ Lý cũng sanh nghi trong lòng, thoát chúc người nhà tới thưa đêm ấy con lừa cái đẻ một con lừa đực mà sổ sữa xinh tốt. Họ Lý nhớ mạy nói: có khi con lừa con nầy thì là đứa thiếu nợ mình chăng. Cách ít ngày, họ Lý trở về nhà thấy con lừa con, bèn hô tên người thiếu nợ mà kêu chơi, con lừa con liền chạy lại dường như có đều hiểu biết. Từ ấy họ Lý mới lấy tên người thiếu nợ mà đặt cho con lừa. Đến khi con lừa lớn, ông ấy cỡi đi chơi xa, nhiều người giàu có muốn mua, trả nhiều bạc; kế lấy ông ấy có việc nhà phải trở về không kịp làm giá. Qua năm sau lừa ngựa nuôi chung một chuồng, lừa bị ngựa cắn gảy ống chơn, làm thuốc không lành. Xảy có một ông thầy thuốc trâu tới nhà họ Lý, thấy con lừa bèn xin lảnh về cho thuốc, họa may có mạnh, bán được giá bao nhiêu sẽ chia đôi. Họ Lý chịu, thầy thuốc trâu lảnh lừa về nuôi ít tháng lành đả rồi, bán được một ngàn tám trăm, chia phân nữa cho họ Lý, họ Lý nhớ sực lại thì đúng giá tiền đậu xanh. Ấy rõ ràng nợ dương gian, mờ mờ âm phủ trả, cũng đủ mà giục lòng người.
26. — chuột có nghĩa.
Hai con chuột đi ăn, rủi thì một con bị rắn bắt, con kia làm bộ giận dữ, lòi hai con mắt như hột tiêu; song cũng ở xa xa mà ngó, không dám lại gần. Con rắn nuốt con chuộc nọ vô bụng rồi, lểnh nghểng bò xuống hang, vừa quá nữa mình, con chuột bạn chạy xốc lại cắn riết đuôi con rắn; con rắn giận tháo đầu trở ra, chuột lẹ nhảy trái, rắn rượt không kịp, trở lộn lại, xăm xăm chun xuống hang; con chuột cứ việc chạy lại cắn đuôi như trước: hễ rắn xuống hang, nó trở lại, rắn thụt ra, nó chạy đi. Nó làm như vậy một hồi lâu, con rắn tức mình phải trở ra, mữa con chuột nuốt ra trên đất, rồi mới trở xuống hang. Con chuột sống thấy xác con chuột chết, chạy lại hít ngửi dường như thương tiếc rồi tha mà đi mất. Có người ngó thấy chuyện ấy rõ ràng, bèn đem làm chuyện nghĩa thử để đời.
27. — chuyện ngươi đinh tiền khê.
Họ Đinh hiệu Tiền-khê là người giàu có, ăn ở rộng rãi, hay là đều nhơn nghĩa, nuôi lầm đứa bất lương, quan địa phương hay đặng cho quân bắt. Họ Đinh trốn đi tới đất An-khâu, mắc mưa vào quán mà đụt. Té ra mưa trót ngày không tạnh, trong quán có một đứa nhỏ ra dọn đãi ăn uống bỉ bàn, rồi thì kế tối, họ Đinh phải ngủ đêm tại quán. Thấy thằng nhỏ có bụng tử tế, cắt tranh cỏ cho ngựa ăn, họ Đinh mới hỏi tên họ chủ quán. Thằng nhỏ nói chủ quán là họ Dương, nó là cháu ruột, bát nó hay kết bạn chơi bời đi vắng, có một mình bát gái nó ở nhà, nghèo lắm không có tiền mà đải khách. Họ Đinh hỏi chủ quán làm nghề gì? Thằng nhỏ ấy nói có một nghề chứa bài, kiếm một hai đồng xâu mà ăn. Qua ngày sau trời còn mưa, mà trong quán cũng cứ việc dọn ăn. Đến tối thấy cỏ tranh cắt để vày vò dầm ướt, họ Đinh lấy làm lạ mà hỏi, thằng nhỏ thưa rằng: chúng tôi không dám giấu ông, nhà chúng tôi nghèo không có chi mà cho ngựa ăn, bát tôi phải giựt tranh mái nhà mà cho nó ăn. Họ Đinh càng lấy làm kỳ, trong ý tưởng chủ quán làm hết lòng như vậy mà đòi cho nhiều tiền. Sáng ngày họ Đinh trả nhiều tiền, chủ quán không lấy, họ Đinh ép thằng nhỏ biểu cầm vào, tức thì nó đem ra mà trả và nói rằng: bát tôi không phải làm nghề đãi khách mà kiếm ăn, bát trai tôi đi chơi đâu mấy ngày cũng không hề đem một đồng tiền, nay ông tới nhà có lẽ đâu cho chúng tôi lấy tiền. Họ Đinh nghe nói lấy làm khen ngợi, từ giã mà đi, lại dặn: khi chủ nhà về phải nói mình là người ở Chư-thành, họ Đinh, chủ nhà có rảnh xin qua chơi.
Cách mấy năm không có tin tức gì, nhằm năm mất mùa, họ Dương khốn túng lắm, chẳng biết làm chi mà ăn, người vợ nhắc chừng biểu chồng qua viếng họ Đinh. Họ Dương tới đất Chư-thành, nói tên họ cho người giữ cữa, họ Đinh quên lửng, hỏi đi hỏi lại mới nhớ, liền xỏ giày ra rước, thấy họ Dương lang thang rách rưới, đem vào nhà dọn yến tiệc đãi đằng, làm ra cách thương yêu quá chừng, sáng ngày may áo quần, trong ngoài đều no ấm. Họ Dương lấy làm cám ơn, mà nghĩ phận nhà lại thêm buồn; vì đàng xa tới anh em cũng có bụng trông chút đỉnh, té ra ở mấy bữa nghe vắng vẻ, không thấy nói tới chuyện cho chác chi cả. Họ Dương tức mình phải nói thiệt với họ Đinh rằng: tôi không dám nói giấu anh, khi tôi qua đây thì gạo trong nhà còn có mấy nồi, nay nhờ anh lấy lòng rộng rãi, rách cho mặc đói cho ăn, tôi lấy làm có phước, mà ngặt vợ con ở nhà không biết liệu làm sao. Họ Đinh rằng: anh đừng lo, tôi đã tính cho anh rồi, anh ở nán ít ngày tôi phải giúp vốn cho anh. Rồi đó họ Đinh cho người đi kêu tay đánh bạc, biểu họ Dương ngồi coi lấy xâu; đánh một đêm xâu hơn một trăm quan, mới đưa họ Dương về. Họ Dương về tới nhà thấy vợ con giày dép áo quần nhỗn nha lành lẻ, lại có tớ gái hầu hạ, lấy làm sự lạ lùng, hởi vợ nhơn sao mà được tử tế như vậy? vợ nói từ anh đi rồi, qua ngày sau liền có xe chở vãi lụa gạo thóc tới chất để đầy nhà, hỏi ra thì người dẫy xe nói là của họ Đinh buổi trước có ở đổ tại nhà, dạy đem tới mà cho, lại có cấp cho một đứa đầy tớ gái để giúp đỡ cho tôi nữa. Họ Dương cám mến chẳng khi đừng, từ ấy trong nhà mới khá, bỏ nghề cũ không làm nữa.
Chưa có bình luận
Hãy là người đầu tiên nói cảm nhận về chương này.