Chuyện giải buồnChương 3: Truyện số 16 đến 21
Nền
Cỡ chữ
20px
Phông chữ
Giãn dòng

Lựa chọn được ghi nhớ cho lần đọc sau.

Chuyện giải buồn · Huỳnh Tịnh Của

Chương 3: Truyện số 16 đến 21

3.279 chữ · Đăng 20/10/2026

16. — cọp có nghĩa.

Đất Triệu-thành có bà già hơn bảy mươi tuổi, mà có một đứa con trai mà thôi. Ngày kia con vào rừng bị cọp ăn, bà già kêu van thương tiếc, tức tối không biết làm sao, bèn đi kiện với ông huyện. Ông huyện tức cười mà nói rằng: phép quan xử kiện người ta, không xử kiện cọp. Bà già lại kêu khóc hơn nữa, ông huyện quỡ cũng không sợ. Ông huyện thấy bà ấy già cả không nỡ làm oai, bèn chịu đòi cọp mà xử. Bà già cứ việc cúi đầu la lết đợi cho có trát mới chịu về. Quan huyện tức mình hỏi trong nha lệ có tên nào dám đi đòi cọp, xảy có tên Lý đương say xoàng-xoàng ra giữa nha vổ bụng chịu đi. Quan huyện liền dạy viết trát; bà già thấy vậy mới chịu dậy mà về. Tên lệ tỉnh rượu hoảng kinh, mà hãy còn tưởng ông huyện làm chuyện gạc bà già, bèn đem trát vào mà tгả. Quan huyện nỗi giận quở rằng: mầy xứng tài hay, sao mầy còn trả trát? Tên lệ túng thế bẩm xin trát bắt quân ví cọp, ông huyện cho, tên lệ đặng trát về qui những người làm nghề ví cọp, đêm ngày núp dọc rừng núi, trông bắt cho đặng một con kẻo quan huyện quở. Cách hơn một tháng bắt không đặng cọp, tên lệ phải đòn dư trăm, lấy làm oan khúc chịu không đặng, bèn đi tới miểu ở tryềng núi mà vái, kêu khóc lạt giọng. Giây lâu có một con cọp ở đâu đi xốc vào, tên lệ thất kinh sợ không khỏi. Cọp lằm lủi đi tới giữa cữa miểu ngồi thịch xuống, con mắc không dáo giát. Tên lệ thấy vậy bèn nói rằng: Như phải mi hại con bà già, thì phải cúi đầu chịu tao trói. Vái rồi liền lấy dây cột cổ cọp, cọp trập tai chịu cột một bề. Tên lệ mới dắc cọp về nha, ông huyện hỏi có phải mi ăn con bà già chăng? Cọp gặc đầu. Ông huyện lại rằng: xưa nay có luật hễ ai giết người thì phải chết, vã bà già ấy có một con, mà mi giết đi, thì còn ai nuôi bà ấy, nếu mi thế công việc nuôi dưỡng bà ấy như con bà ấy vậy, thì tao tha mi. Cọp gặc đầu, ông huyện bèn dạy mở tгói, biểu cọp đi. Bà già đương giận ông huyện không giết cọp, mà thường mạng cho con, sáng ngày mở cữa thấy một con hưu bỏ trước nhà, bèn kêu hàng xóm, bán thịt bán da lấy tiền mua cơm gạo. Từ ấy cọp cứ đem thịt tới hoài, có khi nó tha vàng bạc giẻ lụa tới mà bỏ giữa nhà, làm cho bà già no đủ. Việc nuôi dưỡng lại hơn con ruột, bà già mới đem lòng thương cọp. Mỗi khi cọp tới thì nằm dưới thềm cả ngày, chẳng động tới người tới vật, ai nấy bình yên chẳng còn nghi sợ. Cách ít năm bà già chết, cọp tới kêu hộc giữa nhà, nhờ có của bà già dành để, trong họ lo việc tống táng phủ phê. Cất đặt vừa rồi, cọp chạy tới, ai nấy thất kinh vỡ chạy; cọp tới trước mồ gầm kêu động địa, hồi lâu mới đi. Người xứ ấy có lập một cái miểu nghĩa hỗ, cho tới bây giờ hãy còn.


17. — đuổi yêu quái.

Tên Từ-viển là học trò ở ấp Trường-sơn, nhơn lúc loạn đổi dòng vua, bỏ nhu học qua nghề thầy pháp, xa gần đều nghe tiếng. Trong ấp có một ông nhà giàu, sắm lễ vật, viết thơ cho ngựa đi rước, Từ-viển hỏi rước việc gì, tên đầy tớ nói không biết, chủ tôi biểu làm sao cũng mời thầy cho đặng. Từ-viển tới nơi thì thấy bày yến tiệc, thết đãi trọng hậu, mà chủ nhà cũng chẳng nói vì cớ gì mà rước. Từ-viển không yên hỏi hoài, chủ nhà nói không có chuyện chi, cứ mời rượu, đàm đạo nghiêm trang, nói chuyện dông dài. Chẳng dè tгời vừa tối, chủ nhà xin dời tiệc vào trong vườn. Vườn ấy trồng cây cối kiểng vật xinh tốt, đẹp đẽ; giữa vườn cất một cái nhà cũng đẹp, mà trên ván bửng bụi đóng, lưới nhện giăng, coi ra cũng buồn. Uống vài chập, chủ nhà dạy thắp đèn, Từ-viển xin kiếu không dám uống nữa. Chủ nhà dạy bãi rượu pha trà, tôi tớ lật đật cất dọn bát chén, đem để bên ghế trà. Uống nước chưa được nữa chừng, chủ nhà nói có việc xin kiếu, bèn bỏ thầy ấy ở đó mà đi. Tên đầy tớ nán lại giây lâu rồi bưng đèn đem thầy đi ngủ bên mái tả, để đèn trên bàn rồi cũng sấp lưng ra đi, coi ý lếu láo. Chú thầy tưởng có khi nó đi lấy mền tới mà ngủ chung cho có bạn. Té ra đợi mỏi mê không thấy thằng đầy tớ, mà nhà thì vắng vẻ quạnh hiu; chú thầy mới dậy đi đóng cữa. Ngoài song trăng sáng giọi vào giường, nghe dẳng dõi những tiếng trùng tiếng dế, trên cây thì nghe những tiếng chim cú chim mèo, chú thầy rởn ốc lạnh mình, bồi hồi ngủ không yên giấc. Còn trên ván bững thì nghe tiếng đi đạp rầm rầm, một hồi thấy thòng xuống một cái thang, lần lần đem dựa một bên cữa mạch, chú thầy sợ, mau mau lấy mền trùm đầu nằm không cục cựa. Xảy nghe tiếng mở cữa, chú thầy hé mền dòm ra, thấy cữa mở hoát, có một con gì không biết, đầu thú mà mình người, cao như ngựa, lông lá xồm xàm, đen thui, nanh vút chẻm chẻm, con mắt có ngời, đi ngay vào chỗ để bát dĩa ăn hồi chìu tối, cúi xuống mà liếm đồ ăn dư, nó liếm một cái hết mấy cái bát dĩa. Liếm sạch bát dĩa rồi nó chạy bên giường chú thầy nằm, nó ngửi mền chú thầy. Chú thầy hoảng kinh tốc mền chụp đầu con quái ấy, ôm đó mà la. Con quái bị chụp mền thình lình, cũng hoảng kinh giựt đầu ra mà chạy mất. Chú thầy sảng sốt mang áo chạy đi trốn, té ra cữa vườn đóng chặc, ra không đặng, bèn leo vách tường mà ra nhằm chỗ tàu ngựa. Thằng giữ ngựa thấy chú thầy bơ vơ, nó cũng nghi; chú thầy mới nói các việc, rồi lại xin ngủ nhờ.

Trời gần sáng chủ nhà cho người đi thăm, không có chú thầy, chủ nhà phát nghi kiếm táo tác, gặp chú thầy ở trong nhà ngựa. Chú thầy giận lằm bằm nói rằng: tôi, phép gì cũng làm đặng, ngặt có một chuyện trừ yêu quái, tôi chưa quen cho mấy, ông mời tôi, ông không nói trước, ông hiểm như vậy nghĩa là ông giết tôi đó; phải tôi hay trước, tôi đem đồ nghề tôi theo, tôi có sợ nó ở đâu. Chủ nhà chịu chẳng phải mà rằng: tôi chỉ sợ nói thiệt, thầy không chịu làm, cũng không dè trong túi thầy có đồ nghề, thiệt tôi có lỗi với thầy nhiều quá. Chú thầy không bằng lòng quày quả mượn ngựa mà về. Từ ấy yêu quái trong vườn cũng tuyệt. Mổi khi chủ nhà dọn đãi khách trong vườn, đều cười mà nói với khách rằng: mình chẳng hề quên công ơn thầy Từ-viển.

Sách dị sữ bàn rằng: như lão thầy ấy làm hoảng ôm mền chụp đầu con thú, miệng la bải hãi rồi liền giấu phứt đi, đừng có nói tới chuyện sợ sệt, một nói lớn lối rằng: mình đã đánh đuổi nó được, thì thiên hạ cũng tin chắc là thầy cao tay ấn không ai bì.


18. — rủ nhau chết một lượt.

Đất Tế-dương có một ông già sáu mươi tuổi đau bịnh mà chết. Con cháu lo việc tống táng, xảy nghe ông già kêu la lớn tiếng, ai nấy chạy vào thấy ông ấy sống lại, đều mầng rỡ hỏi thăm. Ông già cứ nói với vợ rằng: tôi tính đi luôn không trở lại, chẳng dè đi đặng ít dặm, xảy sực nhớ bà, nếu bỏ bà ở lại một mình, ấm lạnh không chỗ nương nhờ, sống như vậy cũng không ra cái gì, chi bằng đi theo tôi luôn thể, bỡi đó tôi trở về, có ý đem bà đi theo. Ai nấy lấy làm lời nói sảng sốt, không đem vào tai. Ông già lại nói như vậy nữa. Bà già nói: được như vậy cũng hay, ngặt tôi đương sống mà ông biểu chết, thì chết làm sao đặng? Ông già khoát tay nói rằng không khó gì, thôi bà hãy sắp đặt việc nhà cho mau. Bà già cười cứ việc đứng một bên, ông già hối lắm, bà già phải ra ngoài, cách hồi lâu bèn trở vào mà nói dối rằng sắp đặt đã yên. Ông già biểu đi thay quần áo, bà già không đi; ông già hối mãi, bà già sợ mất lòng, mới đi thay rồi lại trở vào. Con cháu thấy vậy đều che miệng mà cười. Ông già day đầu xít gối vổ bà già biểu nằm. Bà già nói con cháu ở trước mặt, vợ chồng nằm kề vai với nhau coi làm sao đặng? Ông già đấm giường mà rằng: nằm mà chết với nhau, chuyện chi mà khó coi! Con cháu thấy ý ông già nóng nảy, đều khuyên bà già nằm chung gối, tôi tớ trong nhà đều tức cười. Giây phút thấy bà già hết cười, rồi lại nhắm mắt; cách một hồi lặng lẻ như ngủ, lại gần rờ da lạnh như đồng, mũi không còn hơi thở; ông già cũng chết, ai nấy đều hãi hùng.


19. — bốn mươi ngàn.

Đất Tân-thành có một ông giàu có, nằm chiêm bao thấy một người chạy vào nhà mà nói rằng: ông thiếu bốn mươi ngàn, nay phải trả lại. Ông ấy lật đật hỏi, thì người ấy thoát vào nhà trong mà đi mất. Đến khi ông nhà giàu thức dậy, thì vợ chuyển bụng đẻ đặng một đứa con trai. Ông ấy biết nó là oan nghiệt, bèn lấy bốn muôn đồng tiền để riêng ra một chỗ: nhứt thiết sắm sanh đồ ăn, áo mặc, hay là chạy thuốc thang cho con trẻ ấy thì cứ lấy tiền ấy mà tiêu. Khi con nít ấy đặng ba bốn tuổi thì số tiền còn có 700. Tình cờ bà vú bồng con nhỏ ấy lại gần giỡn chơi, ông nhà giàu bèn kêu con mà nói chơi rằng: bốn mươi ngàn gần hết rồi, mầy phải đi đi. Ông ấy nói vừa rồi, con nít ấy liền biến sắc dàu dàu, nghẽo cổ trợn mắt; lại ôm nó thì nó đã tắt hơi, bèn lấy tiền dư 700 ấy mà lo việc cấp táng cho nó. Ấy cũng nên gương cho những người mắc nợ mà không chịu trả.

Xưa có một người già mà không con, hỏi một ông Hòa-thượng vì cớ gì mà mình không con. Ông Hòa-thượng trả lời rằng: nhà ngươi không thiếu người ta, người ta không thiếu nhà ngươi thì làm sao cho có con. Bỡi vì sanh con lành, thì để mà trả duyên ta, sanh con dữ thì để mà đòi nợ ta; có con chớ mầng, con chết chớ rầu.


20. — bợm bải.

Người nhà ông Ngự-sữ buồn ra ngoài chợ đứng chơi, xảy có một người áo mão tử tế lại gần mà nói chuyện, lần lần hỏi tới tên họ chủ nhà, hỏi làm quan chức gì, người nhà nói lại mọi đều. Người tử tế ấy cũng bày tên họ, nói mình là họ Vương là tay trong nhà cao sang. Hai đàng nói chuyện với nhau vui vẻ; họ Vương mới nói qua chuyện làm quan hiễm nghèo; nói các quan lớn cũng đều lập thế dựa theo hàng quí thích, mà không biết quan ngự sữ dựa thế ai. Người nhà cười nói chủ mình không lấy thế ai cả. Họ Vương nói ấy gọi là sợ tốn nhỏ mà quên hại to. Người nhà hỏi vậy phải gỡi mình vào đâu? Họ Vương nói bà công chúa tôi ăn ở lễ nghĩa, lại hay cứu giúp người ta, có một ông Thị-lang cũng nhờ tôi mà làm quen với bà tôi; như quan ngự sữ có lòng rộng rãi đừng tiếc một đôi ngàn vàng, tôi chịu đem người ra mắt bà tôi. Người nhà ông ngự sữ nghe vậy, mầng hỏi thăm nhà, họ Vương liền chỉ một cái nhà lớn, lại nói: ở với nhau một nẽo không biết nhau sao? Người nhà về thưa lại, ông ngự sữ mầng rỡ dọn yến tiệc, sai người nhà ấy đi mời, họ Vương hớn hở qua nhà ăn uống, khen ngợi đức tánh bà công chúa, nói kĩ cang các việc trong phủ; lại nói như không phải là người ở một đàng một nẽo, dẫu cho vàng trăm, cũng không chịu giúp cho ai. Ông ngự sữ càng đem lòng cám mến. Tiệc rồi họ Vương từ giã ra về, biểu ông ngự sữ sắm sanh lễ vật, để y thừa cơ y nói, tối sớm cũng có tin lành. Cách ít bữa họ Vương cởi ngựa nghiêm trang tới nhà ông ngự sữ, hối ông ấy sắm sữa đi cho kíp; lại nói bà công chúa nhiều việc, người ta tới ra mắt chật cữa, từ sớm mai cho đến chiều không có khi hỡ, nay lịnh bà rảnh, phải đi cho mau, bằng chậm thì không lẽ hầu đặng. Ông ngự sữ lật đật lấy vàng ròng cùng nhiều hàng giẽ đem theo; đi quanh quẹo hơn mười dặm đàng mới tới phủ bà công chúa. Tới nơi, một mình họ Vương đem lễ vật vào, ông ngự sữ chực ngoài, hồi lâu họ Vương ra truyền nói linh bà cho đòi quan ngự sữ vào. Liền có một ít người cũng ra truyền hô tiếp rước, ông ngự sữ khóm róm đi vào, ngước mặt thấy một bà ngồi trên cao lịch sự như tiên, áo mão rực rỡ, còn các gái hầu thì đều mặc áo gấm đứng hai bên. Ông ngự sữ sấp mình quì lạy đủ lễ, rồi nghe truyền cho ngồi bên nhà bông; dạy pha trà thì thấy những chén trà bằng vàng. Bà chúa phủ hủy một đôi tiếng, ông ngự sữ cúc cung lui ra, nghe ở trong truyền cho giày thêu, mão hoa. Ông ngự sữ về nhà nghĩ công ơn họ Vương trọng lắm, bèn làm thơ qua tạ, thì cửa đóng chặc không người, tưởng là họ Vương đi chầu bà chúa chưa về; ba ngày ba lần tới cũng không thấy ai, cho người đi hỏi thăm bên cữa bà chúa, thì cữa đóng then gài, hỏi người ở đó đều rằng: không có bà chúa nào, trước đây có một ít người tới mướn nhà mà ở, mà đã dọn đi cách ba bữa rồi. Người nhà về thưa lại, thầy trò đều tức mình ách ách.


21. — mắc lừa.

Có một ông phó tướng quân về kinh, đem tiền bạc theo nhiều lắm, có ý kiếm chỗ thuyên nhậm, mà ngặt không có ai đở đầu. Ngày kia có một người mặt áo cầu cỡi ngựa tới thăm, ông phó tướng mời đải trà rượu tử tế. Người ấy vùng nói có anh ruột hầu gần hoàng đế, lại nói rằng: có một chỗ khuyết tướng quân, như quan phó tướng hào hiệp không tiếc vàng bạc, tôi xin trao lời với anh tôi táng tụng một hai tiếng trước bệ rồng, làm sao cũng giúp cho ông đặng, dẫu ai thế thần cũng không giành nổi. Ông phó tướng nghi là lời nói khoét, không muốn tin. Người ấy lại nói: ông đừng ngại, thiệt tôi có ý kiếm chắc chút đỉnh nơi anh tôi, cũa ông một đồng tôi không ham, ông tính chịu bao nhiêu, ông biên cho tôi ba chữ làm tin, để đợi Thiên-tử người đòi ra mắt rồi tôi mới lấy bạc, như việc không xuôi thì bạc ông còn đó, ai dám tới mà giựt cũa ông. Ông phó tướng nghe được, mầng làm giấy lá xong xuôi. Qua ngày sau người áo cầu ấy trở lại đem ông phó tướng tới nhà người anh là họ Điền; nhà cữa sang trọng như nhà công hầu, ông phó tướng cũng nghinh ngang không giữ lễ phép. khi ấy người áo cầu vào nhà trong rồi cầm giấy ra nói với ông phó tướng rằng: tôi có tính với anh tôi, mà anh tôi nói phải một muôn mới xuôi, ông dốc lòng lo thì ông ký thêm đàng sau giấy. Ông phó tướng chịu. Họ Điền nói không biết bụng người ta làm sao, sợ việc rồi trở trái làm mặt. Người áo cầu cười mà rằng: anh khéo lo, mình cho đặng, mình lấy lại không đặng sao? Vã trong trào các quan văn võ muốn gần anh, còn không đặng thay, tôi tính ông phó tướng đàng đi hãy còn dài, hãy còn phải nhờ anh nhiều ngày, chẵng lẽ có bụng gì xấu. Ông phó tướng cũng thề thốt không dám bội ước. Người áo cầu đưa ông phó tướng về, nói: ba bữa nữa tôi sẽ bảo tin cho ông. Cách hai ngày trời gần tối, có một ít người chạy lật đật vào chỗ ông phó tướng ở mà truyền rằng: đức Hoàng đế đương ngự bên tiện điện có ý đợi ông đó. Ông phó tướng thất kinh vội vả chạy vào chầu, thấy đức hoàng đế ngồi trên ngai, hai bên lỗ bộ sáng giới. Quan phó tướng múa lạy rồi, Hoàng đế dạy cho ngồi, hỏi han tiêm tất, lại ngó hai bên tả hữu mà phán rằng: trẫm có nghe danh quan phó tướng, nay thấy đây thiệt là một vì tài tướng; rồi lại phán rằng: có một chỗ phải có người anh tài trấn phủ mới yên, trẫm phải phú thác cho nhà ngươi, nhà ngươi phải làm cho xứng ý trẫm. Quan phó tướng lạy tạ lui ra, liền có người mặc áo cầu theo mà đưa về cho tới nhà quán, ông phó tướng phải y theo giấy mà giao bạc đủ số.

Ông phó tướng chắc ý mầng rỡ khoe khoang với chúng bạn, sắm sữa chờ ngày phó nhậm. Té ra ít bữa nghe chỗ khuyết ấy đã có người trám rồi, giận lắm vào dinh quan thượng binh mà sân si rằng: Hoàng thượng đã dành chỗ ấy cho tôi, sao bộ lại trao cho người khác. Ông Tư mã lấy làm lạ, hỏi quan phó tướng đầu đuôi, thì ra như chuyện chiêm bao. Ông Tư mã nổi giận bắt ông phó tướng giao cho quan Đình úy. Quan phó tướng khai tên họ người dẫn kiến, tra ra thì trong triều không có tên họ ấy. Té ra quan phó tướng đã mất tiền muôn mà lại mất chức mà về, ấy là bị ăn cướp không gươm dao.

Bình luận chương 3

Chưa có bình luận

Hãy là người đầu tiên nói cảm nhận về chương này.