Chuyện giải buồnChương 5: Truyện số 28 đến 31
Nền
Cỡ chữ
20px
Phông chữ
Giãn dòng

Lựa chọn được ghi nhớ cho lần đọc sau.

Chuyện giải buồn · Huỳnh Tịnh Của

Chương 5: Truyện số 28 đến 31

2.608 chữ · Đăng 20/10/2026

28. — chuyện thây ma làm dữ.

Ấp Thái có một ông già cất quán xa thành để tiếp bộ hành ngủ đêm, có bốn tên dẫy xe thường ngủ đậu. Một bữa trời vừa tối, bốn tên ấy tới thì khách đã chật nhà, không biết đi đâu, xin quyết chủ quán cho ngủ đổ. Ông già ngẫm nghĩ hồi lâu, nói có một chỗ mà e không xứng đáng. Bốn người nói cho có chỗ nằm thì thôi, hè chái chi cũng nên. Nhằm lúc dâu ông già mới chết còn để thây giữa nhà, con trai ông ấy thì đi mua hòm chưa về, ông già mới dắc bốn người vào phiá đàng sau, gần chỗ thây nằm, đèn chong leo lét, có bốn cái giường để liền nhau, bốn người mệt nhọc nằm xuống, liền nghe tiếng ngáy khò khò. Một người còn lim dim mơ màng, xảy nghe tiếng động bên giường thây nằm, nhướng mắt coi thì đèn chưa tắt, thấy thây tốc mền chờ dậy trèo xuống giường, lần lần lại chỗ bốn người ấy nằm, mặt mũi xanh dờn, lụa trắng choàng ngang qua trán, cúi xuống thổi mặt ba người. Người ấy thất kinh sợ nó thổi luôn tới mình, sẽ lén kéo mền trùm đầu nín hơi để coi nó làm thế gì. Giây phút con gái chết ấy cũng men lại mà thổi trên mình người ấy như ba người kia; rồi nó thoát ra khỏi phòng, liền nghe khua bên giường nó, người ấy hé mền dòm thì thấy thây nằm ngữa như cũ. người ấy sợ lắm không dám đánh tiếng, lén đạp ba người kia trơ trơ không cục cựa. Người ấy nghĩ phải mặc áo mà chạy, mới ngồi dậy giủ áo, lại nghe động nữa, sợ nằm lộn xuống, quấn mền lại. Con gái ấy liền qua mà thổi nữa, thổi đi thổi lại đôi ba lần rồi mới đi. Người ấy nghe động bên kia, chắc ý nó trở về rồi, lén thò tay mò áo bận vào bỏ giày chạy khan. Chẳng dè thây con gái cũng chờn vờn chờ dậy làm như bộ rượt, nó vừa ra khỏi màn, người ấy đã mở cữa thoát ra ngoài. Thây ma vụt chạy theo, người ấy và chạy và la, trong làng không có ai canh, muốn đứng lại mà kêu cữa nhà gần, nhưng sợ thây ma theo kịp, bèn cứ đàng lộ chạy miết dài tới bên phía đông, thấy một cái chùa, thầy chùa đương gỏ mỏ tụng kinh, liền chạy sấn vào, thầy chùa thấy kì dị không cho vô. Thoát chúc thây ma theo kịp, cách chừng một thước, người ấy túng thế, thấy ngoài cữa chùa có một cây dương lớn gốc đôi ba vầng, mới tráo xây quanh gốc dương: hễ thây ma chạy bên nầy, người ấy chạy bên kia, thây ma giận lắm, mà hai đàng cũng đã mõi mệt, thây ma vùng đứng lại, người ấy tháo mồ hôi hột thở không ra hơi, cứ núp theo cội cây. Thây ma làm dữ giang hai tay xoát ngang qua gốc cây vói bốc, người ấy hết hồn té ngửa ra, thây ma bắt hụt, ôm riết lấy gốc cây mà đứng sững.

Thầy chùa rình nghe một hồi không có tiếng tăm gì, mới ra coi thì tên bộ hành nằm ngay, soi đèn thì đã chết rồi, song rờ ngực hãy còn hơi hoi hóp như sợi tơ, khiêng vào chùa, sáng đêm mới sống lại, đổ hồ cháo hỏi cớ sự làm sao. Tên bộ hành nói đủ đầu đuôi. Khi ấy chuông đã đánh sáng, trời mờ mờ thầy chùa coi gốc cây dương, thấy một đứa con gái ôm đó mà chết. Báo huyện, quan huyện đi khán nghiệm, dạy người ta gở tay con gái mắc cứng trong gốc cây, giựt không ra, coi kỉ thì tay tả hữu bốn ngón đều bấu trong cây lút mất móng, nhiều người giựt ra mới được, coi dấu ngón móc vào trong cây có lỗ tút hút. Ông huyện khiến người hỏi bên ông già quán, thì trong quán nhộn nhàng về sự thây mất, mấy người bộ hành chết. Người sai học chuyện, ông già qua lảnh thây về. Tên bị thây rượt khóc bẫm với quan huyện rằng mình đi bốn người, nay về một mình, biết nói làm sao với làng xóm? Quan huyện dạy làm vi bằng cho nó đem về mà trình,


29 — chuyện họ thân.

Bên sông Hà có họ Thân là con nhà học hành, nhà nghèo, bữa đói bữa no, bếp núc vắng lạnh, vợ chồng nhìn nhau không biết làm chi cho có mà ăn. Vợ nói với chồng rằng: Nghèo nàn thế nầy, anh phải đi ăn trộm mới nuôi nhau đặng. Họ Thân rằng: mình là con nhà lễ nghĩa, không lẽ làm nhục tông môn, thà thác theo ông Bá-gi, chẳng thà sống làm Đạo chích. Vợ giận mà rằng: muốn sống mà còn sợ xấu nổi gì? Ở đời chẳng cày mà đặng ăn cũng có hai cách, anh chẳng muốn làm ăn trộm thì thà để tôi đi làm đĩ. Họ Thân bất bình nói nhiều tiếng xúc phạm, vợ hờn bỏ đi ngủ. Họ Thân nghĩ mình là trai, có hai bữa ăn mà lo không đặng, đến đỗi vợ đòi đi làm đĩ, thì sống cũng chẳng làm gì, lén ra sau vườn làm vòng thắt cổ. Họ thân mới đút cổ vào vòng, xảy thấy cha chạy tới dứt vòng, quỡ con sao cả gan làm chuyện dại, lại biểu rằng: chuyện ăn trộm cũng nên làm đở là đi coi chỗ nào lúa lên cao dày phải núp đó, như đi phen nầy có lẽ làm giàu, thì phải chừa cải không nên làm nữa. Vợ nghe té một cái đụi, giậc mình chờ dậy kêu chồng không lên tiếng, thắp đèn đi kiếm, thấy vòng trên cây đứt, chồng nằm dưới gốc cây mà chết, thất kinh ôm chồng vuốt ve một hồi, chồng mới sống lại, dịnh vào để nằm trên giường. Vợ thấy vậy không dám giận hờn nữa, sáng ngày mượn cớ chồng đau, đi xin lối xốm đặng một chén cháo đem về cho chồng húp đở. Họ Thân húp miếng cháo rồi, vùng chờ dậy ra đi, tới xế qua mới vác về một bao gạo. Vợ hỏi gạo ở đâu, họ Thân nói anh em bạn với cha tao đều giàu sang, bấy lâu tao lấy sự ngoắt đuôi làm hổ, cho nên tao không chịu đi xin. Người đời xưa có nói rằng: túng thì phải biến, nay tao tính đi ăn trộm thì còn luận gì xấu hổ. Mầy phải nấu cơm cho mau, tao tính nghe lời mầy, tao đi ăn cướp. Vợ tưởng là chồng nói lẩy, lật đật đi vo cơm. Họ Thân ăn no rồi, bèn đi kiếm cây chắc, chặt làm đoản côn, hăm hở vác ra đi. Vợ coi ý chồng thiệt đi ăn cướp, bèn kéo lại không cho đi. Họ Thân rằng: mày biểu tao, mai sau có mang họa, thì đừng trách; nói rồi bèn giựt vạc áo mà đi một bề. Mặt trời vừa chen lặn, họ thân ngó thấy xóm, bèn núp xa xa cách chừng một dặm; thình lình mưa lớn mình mẫy ướt dầm, mù mù ngó thấy một lùm cây, muốn đi cho tới đó mà nghỉ chơn, không dè trời chớp thấy mình đã hầu kề một bên tường có lúa mọc dày, bèn chạy sấn vào đó, ngồi chòm hỏm mà núp. Cách một chặp có một tên trai tráng vặm vở cũng vào trong đám lúa. Họ Thân sợ không dám máy động; may tên trai tráng ấy đi tránh, dòm theo thấy nó leo qua tường, chắc ý nó là quân tử ngồi rường, để nó đem đồ ra, sao vậy mình cũng có phần, mà nghĩ bộ tịch nó thì mạnh bạo hung ác, nếu mình lấy ngang ắt là có đánh lộn, làm sao mình đánh cũng không lại, chẳng bằng lừa thế mà đánh nó trước. Họ Thân lập tâm rồi cứ việc núp đó mà chực. Gà gần gáy sáng, thằng ấy xơn xao leo tường nhảy ra, chơn chưa tới đất, họ Thân nhảy tới đánh một côn trúng ngang lưng nó nhào xuống, thì là một con rùa lớn hả miệng ra bằng trang cái miệng chậu, họ Thân thất kinh đánh bồi nó mới chết.

Số là trong tường ấy có ông nhà giàu, có một đứa con gái xinh tốt trong đời, cha m yêu thương như vàng như ngọc. Đêm kia có một người cao lớn vào nhà làm bức, con gái ấy kêu la không ra tiếng; con gái ấy xấu hổ không dám nói ra, bắt đầy tớ gái nằm một bên, đóng cữa chắc, thằng dữ ấy cũng cứ việc tới như cũ. Ông nhà giàu giận, dạy tôi tớ canh khắp trong ngoài, cũng không bắt nó được. Lâu ngày con gái ấy ốm o gầy mòn, ông nhà giàu tức mình đặt cuộc: ai trừ đặng yêu quái ấy thì thưởng 300 lượng bạc. Họ Thân bình nhựt cũng có hay chuyện ấy, đêm nọ giết đặng con rùa, ngỡ là nó làm hại con ông nhà giàu, bèn kêu cữa xin lảnh thưởng. Ông nhà giàu mầng rước vào, cho người đi khiêng con rùa vào trước nhà dạy chặt ra từ khúc, rồi cầm họ Thân lại, quả không có yêu quái nữa, mới đem bạc ra thưởng đủ số. Vợ ở nhà thao thức đợi trông, thấy chồng vác bạc về để tại giường, sợ hỏi chồng đi ăn trộm thiệt sao? Họ Thân nói mầy biểu tao, mầy còn nói gì. Vợ khóc mà nói rằng: trước tôi có ý nói chơi, nay quả anh phạm tội chết chém, không lẽ tôi chịu tội chung với ăn cướp, tôi phải liều mình tôi trước, chẳng để cho người ta động tới tôi. Vợ nói rồi liền chạy đi, họ Thân kéo lại, cười mà nói thiệt, vợ đổi giận làm mầng, từ ấy vợ chồng có vốn làm ăn một ngày một thạnh lợi.

Sách Dị-sữ bàn rằng: con người ta chẳng phải lo nghèo một lo không có đức hạnh; người ở có hạnh dầu đói cũng không chết, nếu người ta không thương, cũng còn có quỉ thần phù hộ. Những người nghèo ở đời hay dục lợi chẳng vì nghĩa, tham ăn không biết hổ, một đồng tiền người ta cũng không muốn giùm, phương chi là quỉ thần có thương xót làm sao đặng.


30. — chuyện ông xa kính.

Ông Xa-kính là người đời Minh làm quan tới bậc Thị-lang.

Thuở ông ấy còn nhỏ đi học, tối về mắc mưa lạc đàng, thấy đèn xa xa ở dựa chơn núi, đi tới nơi, thấy một cái chùa, bèn kêu cữa. Có một đứa tiểu đồng chạy ra mà nói rằng: thầy dạy tôi chực ông nảy giờ. Xa-kính ngó thấy một tấm biểng treo giữa cữa đề hai chữ Thể huyền, bước vào chùa thấy một ông già chong đèn mà ngồi. Ông già thấy Xa-kính vào, vội vã đứng dậy chào mầng. Ông Xa-kính xin một cây đuốc để kiếm đàng mà về. Ông già cười nói có đuốc ở đâu giữa nầy mà phòng xin; có lá khô nhỏ nhỏ, nhà ngươi đốt mà sưỡi áo quần cho khô đã. Xa-kính hỏi nhỏ, tên tiểu đồng nói tên ông già kêu là ông Tiêu-diêu, tên nó là Thiểu-cô, nghĩ là một vì quân tử ở ẫn, mới hỏi thiệt. Ông già nói: xưa thầy Thể-huyền đi tu trong hang Tiêu-diêu, ta cả đời chuyên nghề làm thuốc, ta thường tới lui trong núi. Sau ta nghe có nhà ông Đàо-hoằng ở tại đó, ta nhơn đi lấy thuốc, qua đó cất am đã lâu năm, bây giờ ý ta cũng muốn trở về. Xa-kính hơ áo rồi, bèn xin về. Ông già dạy Thiểu-cô dắc ra một con bò, biểu Xa-kính cỡi mà về; lại dạy một đứa tiểu đồng đem ra một cái cọ, ông già dở ra, lấy một cái mảo thầy chùa mà cho. Xa-kính không chịu mà rằng: chí tôi dốc lo việc nước nhà, có đâu ông cho tôi đồ như vậy. Ông già nói: thuở trước ta cũng có chí giúp đời, sau bỡi các người làm tướng bất tài không dùng kế ta, nước nhà phải hoạn họa; may ta nhờ một cái giỏ ấy mới khỏi nạn, bằng chẳng thì chẳng còn tử tế tới ngày nay; nhà ngươi nghe lời ta lảnh mảo ấy, ngày sau sẽ biết. Xa-kính chối dài không lảnh, ông già thấy không lẽ ép nài, một than thở mà thôi. Xa-kính đứng xa xa thấy trong giỏ sắp những đồ gổ cùng đồ thầy chùa, không có đồ chi cho lạ, bèn lên lưng bò từ giã mà về. Vừa ra khỏi rừng, bò chạy như dông, giây phút tới nhà, Xa-kính kêu người nhà thắp đèn ra mà dắc bò, con bò liền rống lên, hóa ra cọp mà đi mất.

Sáng ngày, Xa-kính đi tìm am ông Thể-huyền, thì chẳng thấy am tự nào. Cách ít ngày ông ấy đi ngang qua phía tây cách bốn mươi dặm, thì thấy bên nền cũ ông Đạo-hoằng có một cái miểu cũ, mỉa mai chỗ đụt mưa ngày trước, trên vách có đề hai câu thơ rằng: Dạ lương nghi hữu vỏ; viện tịnh nhược vô tăng. Dấu mực còn ràng ràng, y như câu thơ ông Tô-đông-bа ngó thấy.


31. — chuyện ông lưu bá ôn.

Người ta đồn núi Thanh-điền có chuyện kì, nhằm lúc ông Lưu-bá-ôn còn ở ẫn, mỗi bữa ông ấy có ý rình coi. Thình lình cữa hang đá mở ra, ông Lưu chun vào, thấy trên vách đá có chữ đề rằng: vì ông Lưu cữa núi mở. Ông Lưu lấy đá gỏ cữa trong lại mở ra, vào một tầng nữa, liền thấy có một thầy đạo-sĩ gối sách mà nằm. Thầy đạo-sĩ nói vuối ông Lưu rằng: ấy là sách Binh-thơ, rạng ngày mai nhà ngươi đọc thuộc, ta cho nhà ngươi. Ông Lưu chịu, lảnh sách về nội trong một đêm đọc thuộc. Thầy đạo-sĩ phải giao sách Binh-thơ y như lời nói. Vã lại thuở ông Lưu-cơ còn nhỏ đi học trong chùa, có một người ở phòng riêng hay xuất thần đi chơi, khóa cữa lại hoặc một tháng, hoặc nữa tháng mới về. Xảy có sứ bắc qua ghé tại chùa, tối không có chỗ nghỉ, thấy phòng khóa bỏ không, bèn phá cữa phòng, thấy có một người nằm ngay đơ, nói rằng chết rồi, dạy phải thiêu mà chôn đi, để phòng cho sứ ở. Chẳng dè hồn người ấy về, mà xác thì tiêu tan không biết nhập vào đâu, đêm đêm thường kêu khóc hỏi ta ở đâu bây giờ. Ông Lưu-cơ nghe hỏi như vậy liền mở cữa sổ, nói ta ở đây. Hồn ấy liền nhập vào, cho nên ông Lưu-cơ lại càng thông minh hơn trước bội phần: phép thiên văn, phép binh, ông ấy coi qua liền hiểu thấu.

Bình luận chương 5

Chưa có bình luận

Hãy là người đầu tiên nói cảm nhận về chương này.