SƠN HÀ TÀN TƯỚNGChương 10: Nhân Sâm Ký Cổ, Dịch Dung Đêm Mồng Ba.

Cài đặt đọc

Nền trang
Cỡ chữ
20px
Kiểu chữ
Giãn dòng

Lựa chọn được ghi nhớ cho lần đọc sau.

SƠN HÀ TÀN TƯỚNG · D.K. Nguyen

Chương 10: Nhân Sâm Ký Cổ, Dịch Dung Đêm Mồng Ba

7.340 chữ · Đăng 28/10/2026

Dưới bóng râm ẩm ướt của cây muỗm cổ thụ sáu trăm năm tuổi cạnh cổng phụ Quốc Tử Giám, những giọt mưa xuân đọng trên tán lá già thỉnh thoảng lại nhỏ xuống lớp rêu xanh tách, tách.

Khoảng cách từ gốc cây nơi Trần Độ đang đứng tới gian thư phòng biệt lập bên hồ sen của Học quan Nguyễn Trực đúng ba mươi trượng.

Qua cánh cửa gỗ lim vừa khép lại phía xa, bóng lưng của gã Chủ sự Quốc Tử Giám có khuôn mặt tròn phúc hậu như Phật Di Lặc – mật hiệu "Giờ Thìn" – đang chậm rãi tiến lên trước án thư, hai tay nâng chiếc hộp gỗ sưa đỏ thẫm đựng "nhân sâm Cao Ly ngàn năm" dâng lên chúc Tết Nguyễn Trực.

Chỉ cần nắp chiếc hộp gỗ sưa kia mở ra một khe hở nhỏ bằng sợi chỉ, con "Phệ Mệnh Đồng Tâm Cổ" cấp độ Đệ Tam Cảnh nằm bên trong sẽ hóa thành một luồng khói sương không màu không mùi, xuyên qua khứu giác chui thẳng vào thức hải của Nguyễn Trực!

Theo những gì Y quỷ Lê Trọng (buồng giam số 5 ở Bãi Giữa) đã viết trong cuốn sổ da dê 108 Pháp Độc Cổ: Phệ Mệnh Đồng Tâm Cổ là loại cổ trùng tử mẫu âm độc bậc nhất của nhánh Huyết Vu Tướng. Con cổ cái (Mẫu cổ) hiện đang nằm trong tay kẻ chủ mưu ở Nội Mật Viện (chắc chắn là Đại Đô Đốc Nghiêm Thế Phan hoặc một cao thủ Huyết Vu đầu quân cho lão); còn con cổ con (Tử cổ) chính là củ nhân sâm giả trong hộp gỗ kia. Một khi Tử cổ ký sinh thành công vào não bộ mục tiêu, chủ nhân cầm Mẫu cổ không những có thể nghe lén được từng suy nghĩ, từng kế hoạch trong đầu nạn nhân, mà bất kỳ lúc nào cũng có thể bóp nát Mẫu cổ để làm nổ tung thần hồn của kẻ bị ký sinh từ cách xa mười dặm!

Thâm độc hơn nữa là: Nếu một người bên ngoài phát hiện ra con Tử cổ và dùng ngoại lực giết chết nó trước khi nó chui vào người mục tiêu, con Mẫu cổ trong tay Nghiêm Thế Phan sẽ lập tức cảm ứng được cái chết của Tử cổ — và tên phản đồ "Giờ Thìn" sẽ biết ngay trong Quốc Tử Giám có một cao thủ am hiểu cổ thuật vừa phá hỏng chuyện tốt của chúng!

"Giết con cổ trùng đó thì đánh rắn động cỏ. Mặc kệ không cứu thì Nguyễn Trực biến thành con rối bán đứng cả ta lẫn Thiên Cơ Các..."

Đứng tựa lưng vào thân cây muỗm xù xì, dưới vành mũ quan phục Chánh Lại mục Hình Bộ cúi thấp, đôi mắt của Trần Độ tĩnh lặng như mặt nước hồ mùa đông, nhưng bên trong lồng ngực hắn, Mảnh Trống Đồng Ngọc Lũ (Mặt Trời 14 Tia) đã bắt đầu xoay chuyển với tốc độ kinh người!

Hắn không chọn cách giết con cổ trùng, cũng không chọn cách đứng nhìn.

Hắn chọn con đường thứ ba mà chỉ một kẻ sở hữu năng lực Tá Tướng Vạn Biến của Khuyết Thiên Tướng mới có thể làm được: Đoạt Quyền Giữa Đường — Biến Tử Cổ Thành Mắt Xích Giả!

Vù...

Sâu trong không gian ẩn của Mảnh Trống Đồng nơi xương ức Trần Độ, hạt giống Pháp Tướng thứ hai – Hạt giống Huyết Vu Tướng (luyện hóa từ viên Pháp Ấn Đệ Nhị Cảnh Đỉnh Phong của tên thủ lĩnh sát thủ Bạch Triều ở Bãi Giữa, đã được mặt trời mười bốn tia xóa bỏ mọi giới luật và nâng tầm bản nguyên lên tiệm cận tổ nguyên cổ thuật) – đột ngột bừng sáng một sắc đỏ thẫm yêu dị!

Bàn tay phải giấu trong tay áo vải xanh của Trần Độ khẽ động. Cây kim bạc dài nhất và mảnh nhất trong bộ Cửu Chuyển Ngân Châm – cây "Du Hồn Châm" – lặng lẽ trượt ra giữa hai ngón tay hắn.

Trần Độ không hề phóng kim về phía thư phòng cách đó ba mươi trượng, bởi phóng kim qua không trung chắc chắn sẽ bị thần thức Đệ Tam Cảnh của Nguyễn Trực phát hiện.

Thay vào đó, dưới tầm nhìn xuyên thấu lòng đất của đôi mắt Khán Phá Thiên Khuyết, Trần Độ nhìn thấy ngay dưới mũi giày vải của mình có một cái rễ cây muỗm cổ thụ to bằng bắp đùi đang đâm sâu xuống lớp đất ẩm, vươn dài ngầm dưới nền gạch Bát Tràng suốt ba mươi trượng và nối thẳng tới bờ hồ sen cạn ngay sát dưới chân tường gian thư phòng của Nguyễn Trực!

Cây cổ thụ sáu trăm năm tuổi ở Văn Miếu quanh năm hút linh khí và văn khí đất Đông Đô, mạch nhựa sống chạy trong rễ cây chính là sợi dây dẫn truyền âm kình và cổ khí hoàn hảo nhất mà không một thần thức nào trên mặt đất có thể dò ra!

"Còn ba nhịp thở nữa là 'Giờ Thìn' mở nắp hộp..."

Trần Độ giả vờ cúi người xuống buộc lại dây giày vải bị tuột bên cạnh gốc cây muỗm.

Ngay khoảnh khắc hai ngón tay hắn chạm vào phần rễ cây nổi lên trên mặt rêu ẩm, đầu mũi kim bạc Du Hồn Châm đã đâm nhẹ một phần mười tấc vào đúng mạch nhựa chính của rễ cây!

Cùng lúc đó, Trần Độ cắn nhẹ đầu lưỡi, một giọt tinh huyết mang theo cả khí tức thượng vị của Hạt giống Huyết Vu Tướng lẫn quy tắc "Che Giấu Thiên Cơ" của Tàng Khuyết (Khuyết Thiên Tướng) theo mũi kim bạc truyền thẳng vào trong mạch rễ cây muỗm!

Tích...

Giọt máu của Trần Độ vừa tiến vào mạch rễ cổ thụ lập tức hóa thành một sợi chỉ đỏ vô hình mỏng hơn sợi tơ nhện một trăm lần, mượn sức đẩy của ba ngàn cân khí huyết Khai Mạch Viên Mãn bắn vọt đi dưới lòng đất với tốc độ của tia chớp!

Ba mươi trượng đường ngầm dưới đất, chỉ mất đúng một nhịp thở!

Bên trong gian thư phòng có bố trí trận pháp cách âm của Nguyễn Trực lúc này:

Vị Ngự sử Đô Sát Viện ("Giờ Mão") đang đứng nghiêm cẩn bên cạnh án thư; còn gã Chủ sự Quốc Tử Giám có gương mặt Phật Di Lặc ("Giờ Thìn") thì đang nở nụ cười hiền hậu, kính cẩn đặt chiếc hộp gỗ sưa lên mặt bàn trước mặt Nguyễn Trực:

"Trực huynh, năm vừa qua huynh vì việc của Quốc Tử Giám và... việc trong Các mà hao tâm tổn sức nhiều quá, tóc mai đã bạc đi quá nửa rồi. Đệ có người cháu đi buôn ở biên giới Đông Bắc mới gửi về được một củ lão sơn sâm Cao Ly sáu mươi năm tuổi, sáng Mồng Một mang qua biếu huynh ngậm dưỡng thần. Huynh mở ra xem thử xem có ưng ý không?"

Nguyễn Trực nhìn người đồng hương đã cùng mình vào sinh ra tử suốt hai mươi năm qua, trong lòng vừa đau xót vừa lạnh lẽo vì lời cảnh báo "Nội gián Giờ..." mà Trần Độ vừa báo cáo lúc nãy. Ông ta muốn xem thử tên "Giờ Thìn" này hôm nay đến chúc Tết có lộ ra sơ hở gì không, nên khẽ gật đầu, vươn bàn tay phải ra mở chốt đồng của chiếc hộp gỗ sưa!

Tách!

Nắp hộp gỗ sưa vừa được Nguyễn Trực nhấc lên nửa tấc!

Bên trong lớp lụa vàng lót hộp, một "củ nhân sâm" màu vàng sẫm có hình dáng giống hệt một đứa trẻ sơ sinh đang nằm cuộn tròn. Ngay khi ánh sáng bên ngoài vừa lọt vào hộp, trên đỉnh đầu của "củ nhân sâm" đó, một lỗ khí nhỏ li ti mở ra, chuẩn bị phun luồng sương độc chứa bản thể của Phệ Mệnh Đồng Tâm Cổ thẳng vào mũi và mi tâm của Nguyễn Trực ở khoảng cách chỉ hai thước!

Gã Chủ sự "Giờ Thìn" đứng bên cạnh vẫn giữ nguyên nụ cười hiền lành của Phật Di Lặc trên môi, nhưng sâu trong đáy mắt híp lại của gã đã lóe lên một tia đắc ý tàn độc: Chỉ cần Nguyễn Trực hít vào một hơi này thôi, toàn bộ nhánh Giờ Tý của Thiên Cơ Các và cả danh sách người của Vĩnh Đế sẽ nằm gọn trong lòng bàn tay của Đại Đô Đốc Nghiêm Thế Phan!

Thế nhưng, "Giờ Thìn" không hề biết rằng:

Đúng vào một phần ngàn nhịp thở trước khi con Phệ Mệnh Đồng Tâm Cổ kịp hóa sương bay lên —

Từ dưới nền gạch cổ ngay dưới chân chiếc án thư của Nguyễn Trực, một sợi rễ nhỏ của cây muỗm cổ thụ ăn xuyên qua kẽ đá bờ hồ sen khẽ rung lên! Sợi chỉ máu vô hình mang theo bản nguyên Khuyết Thiên Tướng và Huyết Vu Tướng của Trần Độ từ dưới sàn gạch phóng thẳng lên theo chân bàn, xuyên qua đáy hộp gỗ sưa và đâm ngập vào giữa tim của "củ nhân sâm" (con Tử cổ)!

Nếu là cổ khí của một tu sĩ Huyết Vu bình thường xâm nhập, con Tử cổ cấp Đệ Tam Cảnh này sẽ lập tức phản kháng hoặc báo động cho Mẫu cổ.

Nhưng thứ vừa đâm vào người nó lại là khí tức của Mảnh Trống Đồng Ngọc Lũ – vật khắc chế đầu nguồn của toàn bộ mười một Pháp Tướng trong thiên hạ!

Dưới uy áp tuyệt đối như bậc quân vương nhìn xuống thần tử của Mảnh Trống Đồng, con Phệ Mệnh Đồng Tâm Cổ bên trong củ nhân sâm run lên bần bật vì sợ hãi, hoàn toàn không dám phát ra dù chỉ một tia sóng thần thức cầu cứu nào về phía Mẫu cổ! Ngay lập tức, năng lực Tàng Khuyết của Trần Độ đã cắt đứt một nửa sợi dây liên kết huyết mạch giữa Tử cổ và Mẫu cổ, rồi phủ lên trên nhân thần thức của con Tử cổ một lớp "Màng Ký Ức Giả"!

Toàn bộ quá trình "đoạt quyền đổi chủ" diễn ra bên trong hộp gỗ chỉ mất chưa đầy nửa cái chớp mắt!

Con Phệ Mệnh Đồng Tâm Cổ sau khi bị giọt máu của Trần Độ khống chế liền ngoan ngoãn thu lại toàn bộ độc tính ký sinh, chỉ tỏa ra một làn hương nhân sâm thanh khiết bình thường bay vào mũi Nguyễn Trực; còn bản thể thật sự của con cổ trùng thì theo sợi chỉ máu của Trần Độ lặng lẽ chui ngược qua đáy hộp gỗ, trượt xuống chân bàn rồi nằm im lìm dưới kẽ gạch nền thư phòng như một con sâu đất vô hại!

"Ồ, mùi sâm thơm và thuần khiết lắm. Đa tạ tấm lòng của hiền đệ."

Nguyễn Trực hít nhẹ mùi hương nhân sâm hoàn toàn không có độc tính kia, dùng thần thức Đệ Tam Cảnh quét qua củ nhân sâm trong hộp (lúc này chỉ còn là cái vỏ xác thực vật rỗng không còn cổ trùng) thấy không có gì bất thường, liền mỉm cười đóng nắp hộp gỗ lại!

Đứng bên cạnh, gã Chủ sự "Giờ Thìn" thấy Nguyễn Trực đã hít trọn vẹn làn hơi đầu tiên khi mở hộp rồi đóng nắp lại, trong lòng mừng như mở cờ, đinh ninh rằng con Phệ Mệnh Đồng Tâm Cổ đã chui vào thức hải của Nguyễn Trực thành công mỹ mãn!

Còn ở ngoài cổng phụ cách đó ba mươi trượng, Trần Độ rút nhẹ cây kim bạc Du Hồn Châm khỏi rễ cây muỗm, đứng dậy phủi bụi đất trên đầu gối quần quan phục xanh, khóe môi khẽ nhếch lên một đường cong lạnh lẽo:

"Giờ Thìn và Nghiêm Thế Phan đều tưởng Nguyễn Trực đã trúng cổ trùng. Còn thông qua con Tử cổ đang nằm dưới gạch thư phòng kia, ta vừa nghe trọn vẹn cuộc nói chuyện khi Nguyễn Trực tung mồi nhử 'treo đèn lồng trắng ở cầu gỗ phía Nam Thủy Đình đêm Mồng Ba Tết' cho Giờ Thìn, vừa có thể tùy ý điều khiển con Tử cổ truyền bất kỳ 'suy nghĩ giả' nào của Nguyễn Trực về cho con Mẫu cổ trong tay Nghiêm Thế Phan!"

Một nước cờ biến độc kế của kẻ thù thành đường dây điện báo một chiều của riêng mình!

Trần Độ không nán lại Quốc Tử Giám thêm một khắc nào nữa, cầm chiếc ô giấy dầu bước nhanh ra khỏi cổng phụ phía Đông, hòa vào dòng người đi lễ đầu năm trên đường phố Đông Đô.

Hai ngày đầu năm mới – Mồng Một và Mồng Hai Tết năm Vĩnh Hòa thứ mười lăm – trôi qua trong sự bình yên giả tạo của ba mươi sáu phường Kẻ Chợ.

Bề ngoài, vị tân Chánh Lại mục trẻ tuổi của Ty Nghiệm Thi Hình Bộ là Trần Độ vẫn đóng trọn vai một viên tiểu quan mẫn cán, thật thà và có phần quê mùa. Ban ngày hắn ở lại nha môn Hình Bộ chỉ đạo mấy tên tạp dịch dọn dẹp đống đổ nát của gian nhà xác bị cháy, ghi chép sổ sách tử vong và chia tiền thưởng Tết cho đám thuộc hạ cũ của Đặng Hoành khiến ai nấy đều tấm tắc khen vị Chánh Lại mục mới tuy trẻ người nhưng biết điều, rộng rãi hơn hẳn gã Lại mục mặt ngựa đã vào Ngục Hỏa Lò kia.

Thế nhưng, trong bóng tối của hai đêm Mồng Một và Mồng Hai Tết, những quân cờ mà Trần Độ đã gieo xuống bắt đầu chuyển động đúng từng khắc một theo sự tính toán của hắn:

Đầu tiên, vào đêm Mồng Một Tết, thông qua con Phệ Mệnh Đồng Tâm Cổ nằm dưới gạch thư phòng Quốc Tử Giám, Trần Độ đã mô phỏng tần số sóng não của Nguyễn Trực để truyền đi một "dòng suy nghĩ" về cho con Mẫu cổ tại tổng đàn Nội Mật Viện: "Đêm Mồng Ba Tết giờ Hợi, ta sẽ đích thân phái cao thủ của Thiên Cơ Các đến cầu gỗ phía Nam Thủy Đình giáo phường Thái Hồ đón đào nương Lộng Ngọc và lấy cuốn sổ giao dịch của bảy quan viên bán sắt muối..."

Ngay sáng Mồng Hai Tết, từ các trạm gác của Dạ Tuần Ty – Nội Mật Viện khắp Đông Đô, hàng chục lượt chim ưng truyền tin bay về dinh Đại Đô Đốc. Thiên hộ Chu Hoài An (kẻ đã thẩm vấn Trần Độ ở Bãi Giữa) nhận mật lệnh từ Nghiêm Thế Phan, âm thầm điều động năm mươi tên Đề kỵ tinh nhuệ nhất chuẩn bị lưới sắt để phục kích tại khu vực hồ Thái Hồ vào đêm Mồng Ba!

Thứ hai, vào chiều Mồng Hai Tết, Trần Độ sai một đứa trẻ ăn mày không biết mặt mình mang một mảnh giấy gói kẹo lạc đặt lên bàn quán nước chè vối đầu ô Cầu Giấy của Bạch Khanh. Trên tờ giấy gói kẹo lạc không có chữ ký, chỉ vẽ nguệch ngoạc bằng than củi hình một chiếc thuyền hoa neo đậu tại Thủy Đình giữa hồ Thái Hồ kèm theo bốn chữ: "Giờ Hợi Mồng Ba — Sắt Muối Qua Ải"!

Với trí tuệ của vị Thánh nữ Bạch Triều đang điều tra cái chết của tám tử sĩ ở Bãi Giữa, Bạch Khanh vừa nhìn thấy nét vẽ bằng than củi giống hệt kiểu chữ của gã tiểu lại Hình Bộ để lại nan tre hôm trước thì lập tức hiểu ngay: Cuốn sổ gốc liên quan đến vận mệnh biên giới Cao Lĩnh sẽ xuất hiện tại Thủy Đình đêm Mồng Ba Tết!

Bạch Triều — Nội Mật Viện — Thiên Cơ Các — và cả đường dây bán nước của "Chàng Trương Chi", "Thị Mầu"!

Bốn con thú dữ đã cùng được dẫn tới trước một cái chuồng sắt!

Đêm Mồng Ba Tết năm Vĩnh Hòa thứ mười lăm. Giờ Tuất hai khắc (khoảng tám giờ tối).

Trời Đông Đô về đêm lại bắt đầu buông xuống một màn sương mù trắng đục pha lẫn mưa bụi mùa xuân.

Khu vực hồ Thái Hồ (nằm ở phía Tây Bắc kinh thành, nơi tập trung ba mươi sáu giáo phường ca trù, lầu xanh và biệt viện nghỉ dưỡng của các vương công quý tộc) đêm nay rực rỡ ánh đèn lồng đỏ như một dải ngân hà rơi xuống mặt nước. Tiếng trống chầu tom, chát, tiếng đàn đáy, tiếng phách tre giòn giã và tiếng cười nói lả lơi của các đào nương vọng qua mặt hồ mù sương, tạo nên một khung cảnh phồn hoa sắc dục đối lập hoàn toàn với những con ngõ nghèo đói tối tăm ở phía Nam Kẻ Chợ.

Nằm ở vị trí trung tâm đẹp nhất của bờ Đông hồ Thái Hồ là Lầu Vọng Nguyệt và tòa Thủy Đình (nhà thủy tạ tám mái cong vút dựng trên những cột gỗ lim đóng sâu xuống đáy hồ, nối với bờ bằng một cây cầu gỗ sơn son dài năm mươi trượng chạy hình chữ Chi) của Giáo phường Thái Hồ – đệ nhất giáo phường đất Đông Đô, nơi chỉ tiếp đón các quan viên từ tứ phẩm trở lên và con cháu trong Tạ Vương Phủ!

Đêm nay là đêm hội "Khai Xuân Thưởng Khúc" lớn nhất đầu năm của Giáo phường Thái Hồ. Ngay từ giờ Tuất, trước cổng Lầu Vọng Nguyệt đã có hàng chục cỗ xe ngựa bánh bọc đồng, rèm châu lộng lẫy của các vị Thượng thư, Thị lang và võ tướng đỗ chật kín cả con đường đá ven hồ.

Cách cổng Giáo phường Thái Hồ hai trăm bước chân, trong một con hẻm nhỏ tối om không người qua lại sau ngôi đền thờ Thủy Thần, Trần Độ đang đứng quay mặt vào vách tường gạch cổ.

Đêm nay, hắn không thể mặc bộ quan phục Chánh Lại mục Hình Bộ hay dùng gương mặt thật của Trần Độ để bước vào Thủy Đình được – bởi vì cả Thiên hộ Chu Hoài An của Nội Mật Viện, tên phản đồ "Giờ Thìn", lẫn cô hàng nước Bạch Khanh đều đã biết mặt "tiểu lại Trần Độ"!

Hắn cần một thân phận có thể đường hoàng đi qua mọi trạm gác của giáo phường, bước thẳng vào tận khu vực hậu đài Thủy Đình và phòng riêng của đào nương đầu bảng Lộng Ngọc ("Thị Mầu") mà không một ai mảy may nghi ngờ!

Và thân phận hoàn hảo nhất đó đã được hắn chuẩn bị sẵn từ hai đêm trước:

Trần Độ mở chiếc hộp vỏ ốc nhỏ lấy ra một lượng sáp màu da người tỏa hương thảo mộc nhàn nhạt – "Thiên Diện Cao" của Đào nương mặt cháy Liễu Như Thị (buồng số 4 Bãi Giữa).

Cùng lúc đó, bên trong lồng ngực hắn, hạt giống Pháp Tướng thứ ba – Hạt giống Hí Mệnh Tướng vừa thôn tính từ Kép Tư Què – kết hợp với kỹ thuật điều khiển xương cốt cơ bắp của Kép già họ Phạm (buồng số 6) bắt đầu vận chuyển!

Rắc... rắc...

Dưới sự tác động của năm phần sức mạnh Hí Mệnh Tướng được Mảnh Trống Đồng cho mượn, các khớp xương gò má, xương hàm và sụn mũi trên khuôn mặt thanh tú mười chín tuổi của Trần Độ khẽ dịch chuyển ba phân! Mười ngón tay của hắn thoăn thoắt thoa lớp sáp Thiên Diện Cao lên mặt, kéo căng vùng da quanh khóe mắt, điểm thêm hai vết nhăn sâu ở khóe miệng, tô một đường viền son đỏ nhạt nơi đuôi mắt phượng và đeo chiếc khuyên bạc hình chiếc phách nhỏ lên vành tai trái!

Không dừng lại ở khuôn mặt, Trần Độ cởi bỏ bộ quan phục Hình Bộ cất vào tay nải giấu dưới hốc đá, mặc lên người một bộ áo dài lụa màu tím than thêu hoa văn mây chìm của giới nhạc công giáo phường; đặc biệt nhất là ở bên cổ chân phải, hắn quấn một vòng nẹp sắt nặng mười cân lấy từ tiệm rèn và bước đi với dáng vẻ hơi khập khiễng bên chân phải!

Khi Trần Độ bước ra khỏi con hẻm tối và soi mình xuống vũng nước mưa dưới ánh đèn lồng đỏ:

Gã thiếu niên sắc thuốc gầy gò của Bãi Giữa hay vị Chánh Lại mục trẻ tuổi của Hình Bộ đã biến mất hoàn toàn không còn một chút dấu vết! Đứng trước mặt nước lúc này chính là "Kép Tư Què" – gã nhạc công đánh đàn đáy ba mươi lăm tuổi có gương mặt âm trầm, mặt hoa da phấn và cái chân phải thọt đặc trưng của Giáo phường Thái Hồ!

"Hai đêm trước nhà xác Hình Bộ bị nổ tung, cái xác của Kép Tư Què đã cháy thành than đen không ai nhận dạng được mặt mũi, chỉ có Nội Mật Viện dựa vào một mảnh chân sắt gãy để đoán đó là Kép Tư Què và đã phong tỏa tin tức để điều tra. Đối với người trong Giáo phường Thái Hồ lúc này, Kép Tư Què chỉ mới 'mất tích' hai ngày chưa về. Bây giờ Kép Tư Què đột nhiên lành lặn quay về giáo phường vào đúng đêm Mồng Ba Tết... phản ứng của 'Thị Mầu' Lộng Ngọc và 'Chàng Trương Chi' chắc chắn sẽ rất thú vị!"

Trần Độ kiểm tra lại chiếc ô giấy dầu của Lão mù họ Diêu (đã được hắn bọc bên ngoài bằng một lớp vỏ vải gấm đựng đàn đáy để ngụy trang thành túi đựng nhạc cụ đeo sau lưng), chín cây kim bạc trong cổ tay áo và chiếc thẻ bài gỗ trầm hương đính chín hạt vàng khắc chữ "Lộng Ngọc" trong lòng bàn tay, rồi khập khiễng bước thẳng tới cổng phụ dành cho người làm của Giáo phường Thái Hồ!

"Đứng lại! Đêm nay Thủy Đình có quý nhân trong Vương phủ và các bộ đường đại nhân đến nghe Lộng Ngọc cô nương hát, người không phận sự... Ơ?! Tư... Tư gia?!"

Hai tên hộ viện lực lưỡng tu vi Đệ Nhất Cảnh đứng gác ở cổng hậu của giáo phường vừa định giơ gậy chắn đường, nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt tô son mắt phượng dưới ánh đèn lồng, cái dáng đi thọt chân phải quen thuộc và ngửi thấy mùi phấn sáp "Chu Sa Nhài" đặc trưng trên người "Kép Tư Què", cả hai tên đều giật bắn mình, mắt trợn tròn như thấy ma giữa ban ngày:

"Tư... Tư gia! Ngài chưa chết à?! Hôm qua bọn tiểu nhân nghe đồn đêm hăm chín Tết ngài đi làm việc cho Lộng Ngọc cô nương ở phố Hàng Trống bị lính của Nội Mật Viện vây bắt nổ chết trong Hình Bộ rồi cơ mà?!"

Trần Độ (trong nhân dạng và giọng nói khàn đặc như ngâm thuốc của Kép Tư Què) lập tức nhíu mày, giơ tay tát một cái bốp vào mặt tên hộ viện vừa mở miệng, giọng nói vừa hung hãn vừa âm độc đúng chuẩn tác phong ngày thường của Kép Tư Què:

"Cái mồm thối của mày muốn trù cho ông đây chết thật đấy à?! Đêm hăm chín Tết ông đây thấy trong nhà xác Hình Bộ có bẫy của bọn chó săn Nội Mật Viện nên đã lột quần áo và tháo cái chân sắt dự phòng mặc vào cho một cái xác chết khác rồi châm lửa làm nổ tung nhà xác để 'Kim thiền thoát xác'! Mấy hôm nay ông phải trốn trong cống ngầm đợi qua cơn gió độc mới dám mò về, mày dám hét to lên cho tai mắt của Nội Mật Viện bên ngoài nghe thấy thì ông cắt lưỡi mày bây giờ!"

Một cái tát kết hợp với lời giải thích "Kim thiền thoát xác bằng chân sắt dự phòng" hợp lý đến mức hai tên hộ viện sợ xanh mặt, ôm má vội vàng cúi rạp đầu xuống:

"Dạ, dạ, tiểu nhân đáng chết! Tư gia cao minh thật, lừa được cả bọn chó săn Nội Mật Viện! Lộng Ngọc cô nương đang ở trong Thủy Đình chuẩn bị lên sân khấu hát khúc mở màn, cô nương cũng đang lo sốt vó vì tưởng ngài xảy ra chuyện đấy ạ!"

Trần Độ hừ lạnh một tiếng, giơ chiếc thẻ bài gỗ trầm hương đính đủ chín hạt vàng khắc chữ "Lộng Ngọc" ra trước mặt hai tên hộ viện rồi thu lại vào tay áo, chống gậy khập khiễng đi thẳng qua cổng hậu tiến vào bên trong Giáo phường Thái Hồ!

Vừa bước qua khỏi bức bình phong chạm khắc rồng phượng của tiền sảnh để tiến ra khu vực bờ hồ dẫn ra Thủy Đình, Trần Độ khẽ nâng mi mắt quan sát toàn bộ địa hình nơi đây dưới ánh sáng của hàng ngàn chiếc đèn lồng đỏ:

Hồ Thái Hồ rộng mênh mông, mặt nước đêm mùa xuân phủ một tầng sương mù dày đặc cao ngang thắt lưng người. Tòa Thủy Đình hai tầng tám mái nằm chơ vơ giữa mặt hồ, cách bờ năm mươi trượng, chỉ có duy nhất một cây cầu gỗ sơn son chạy ngoằn ngoèo chín khúc nối từ bờ ra đình; xung quanh mặt nước dưới chân Thủy Đình có khoảng hai mươi chiếc "Thuyền Hoa" (thuyền gỗ lớn có phòng riêng buông rèm trúc) đang neo đậu để các vị khách quý ngồi trong thuyền vừa uống rượu vừa nghe tiếng hát từ Thủy Đình vọng ra.

Và dưới con mắt Khán Phá Thiên Khuyết của Trần Độ, ẩn bên dưới vẻ phong lưu nhàn nhã của đêm hội ca trù này là một sát cục bốn phương tám hướng đã lên dây cót căng như dây đàn:

Ở hướng Bắc và hướng Nam cầu gỗ: Có ít nhất ba mươi điểm khí huyết màu đỏ sẫm mang tính chất "Luật Pháp Sát Phạt" đang ẩn nấp dưới các lùm liễu ven hồ và trên những chiếc thuyền đánh cá nhỏ ngoài xa – đó là đội quân Dạ Tuần Ty của Thiên hộ Chu Hoài An (Đệ Tam Cảnh) và tên phản đồ "Giờ Thìn" đang nằm phục kích theo đúng cái bẫy đèn lồng mà Trần Độ đã mượn tay Nguyễn Trực tung ra!

Ở hướng Tây trên mặt hồ mù sương: Trên một chiếc thuyền nan nhỏ bán hoa đăng trôi dạt cách Thủy Đình bảy mươi trượng, có một luồng Kiếm Ý băng tuyết Đệ Tam Cảnh đang thu liễm cực sâu dưới chiếc nón lá thôn nữ – Bạch Khanh cùng bốn cao thủ Bạch Liên Mật Điệp của Bạch Triều đã tới!

Nhưng đáng chú ý nhất là trên chiếc Thuyền Hoa lớn nhất sơn màu trắng bạc neo đậu ngay sát phía Đông Nam của Thủy Đình:

Trên mũi chiếc thuyền hoa màu trắng đó có bốn tên hộ vệ mặc áo gấm xám đứng khoanh tay, mỗi tên đều là cao thủ Đệ Nhị Cảnh (Lập Tướng) hàng thật giá thật!

Còn bên trong khoang thuyền buông rèm châu mỏng, có một vị công tử trẻ tuổi chừng hai mươi hai tuổi, mặc bộ áo gấm trắng muốt thêu hoa mai bằng chỉ bạc, đầu đội mão ngọc, gương mặt tuấn mỹ ôn hòa như ngọc quý đang ngồi tựa lưng vào gối nhung, tay phải phe phẩy chiếc quạt xếp bằng xương ngà dù trời đang là mùa đông lạnh giá!

Bề ngoài, vị công tử áo trắng đó chỉ tỏa ra khí tức của một tu sĩ Đệ Nhị Cảnh Sơ Kỳ ham mê tửu sắc; nhưng dưới cái nhìn xuyên thấu mọi lớp vỏ bọc của Mảnh Trống Đồng Ngọc Lũ trong ngực Trần Độ:

Ẩn sâu bên dưới lớp da thịt thư sinh trắng trẻo của vị công tử kia là một luồng Sát Khí Chiến Trường (Trấn Nhung Tướng) kết hợp với Bóng Tối Thôn Phệ (Vô Ảnh Tướng) đã đạt tới cảnh giới Đệ Tam Cảnh Đỉnh Phong (Ngự Thần Viên Mãn) – thâm sâu và nguy hiểm hơn cả Thiên hộ Chu Hoài An lẫn Học quan Nguyễn Trực một bậc!

Không cần hỏi cũng biết, người ngồi trên chiếc thuyền hoa màu trắng đó chính là nhân vật kiệt xuất nhất của thế hệ trẻ Bắc Hà, đối thủ đấu trí lớn nhất của Trần Độ trong hai quyển đầu: Tam Thế tử Tạ Vương Phủ – Tạ Trường Ninh!

"Tạ Trường Ninh cũng đích thân đến Thủy Đình đêm nay..."

Trần Độ vừa đi khập khiễng trên hành lang cầu gỗ dẫn ra Thủy Đình vừa thầm gảy bàn tính trong đầu: "Theo gia phả họ Tạ, Tạ Trường Ninh là con trai thứ ba của Tĩnh Bắc Vương, tức là đường huynh (anh họ) trên danh nghĩa của cái xác phàm nhân Trần Độ này. Một vị Thế tử sâu không lường được như Tạ Trường Ninh không bao giờ vô cớ xuất hiện ở nơi sắp có máu chảy, trừ phi... mục tiêu của hắn đêm nay cũng chính là cuốn sổ giao dịch sắt muối của 'Chàng Trương Chi' và 'Thị Mầu' để dùng làm vũ khí tấn công hai người anh trai là Đại Thế tử và Nhị Thế tử!"

Đi hết chín khúc cầu gỗ trên mặt nước, Trần Độ bước vào tầng một của tòa Thủy Đình giữa hồ.

Trên sân khấu chính ở tầng một lúc này, mười hai cô kỹ nữ mặc áo lụa hồng đang múa quạt theo tiếng trống chầu mở màn. Trần Độ dùng chiếc thẻ bài gỗ trầm hương khắc chữ "Lộng Ngọc" đi thẳng qua lối cầu thang gỗ trầm dẫn lên Nhã Gian Tầng Hai của Thủy Đình – nơi nghỉ ngơi và trang điểm riêng tư của cô đào nương đầu bảng Lộng Ngọc trước khi bước ra hát chính vào giờ Hợi!

Hành lang tầng hai của Thủy Đình hoàn toàn vắng lặng, bốn phía đều là rèm lụa đỏ thẫm rủ xuống che kín gió hồ, trong không khí nồng nặc mùi hương trầm "Mê Điệp Hương" và mùi phấn sáp "Chu Sa Nhài".

Trần Độ dừng lại trước cánh cửa gỗ chạm hoa sen của căn phòng cuối hành lang, ngón tay gõ lên khung cửa theo nhịp "ba ngắn, một dài" – ám hiệu riêng của Kép Tư Què.

"Vào đi."

Từ bên trong phòng vọng ra một giọng nói nữ nhân mềm mại, quyến rũ đến mức chỉ nghe qua cũng khiến xương cốt đàn ông như muốn nhũn ra, nhưng ẩn dưới sự ngọt ngào đó lại là một sự lạnh lùng sắc bén.

Trần Độ đẩy cửa bước vào, tiện tay khép chặt cánh cửa gỗ lại sau lưng.

Căn phòng rộng chừng mười trượng vuông, bốn mặt đều có cửa sổ nhìn ra mặt hồ Thái Hồ mù sương. Trước chiếc bàn trang điểm bằng gỗ tử đàn đặt tấm gương đồng lớn ở giữa phòng, một người phụ nữ tuyệt sắc chừng hai mươi tư, hai mươi lăm tuổi đang ngồi chải tóc.

Ả mặc một bộ yếm đào màu đỏ máu bên trong lớp áo lụa mỏng như cánh ve sầu để lộ bờ vai trắng ngần như tuyết; trên cổ tay trái thon thả của ả đeo một chiếc vòng ngọc bích, còn bên cạnh bàn trang điểm là một chiếc đàn tỳ bà bốn dây làm bằng gỗ ngô đồng đen bóng.

Đó là đệ nhất danh kỹ đất Đông Đô – Lộng Ngọc, và dưới con mắt Khán Phá Thiên Khuyết của Trần Độ, người phụ nữ này chính là một tu sĩ Đệ Nhị Cảnh Đỉnh Phong của nhánh Hí Mệnh Tướng kiêm Vô Ảnh Tướng – mật hiệu "Thị Mầu" trong danh sách bảy kẻ bán nước!

Khi nhìn thấy bóng dáng khập khiễng của "Kép Tư Què" hiện ra trong tấm gương đồng trước mặt, bàn tay đang cầm lược ngà chải tóc của Lộng Ngọc đột ngột khựng lại!

Đôi mắt phượng sắc sảo của ả quay phắt lại nhìn Trần Độ từ đầu đến chân, năm ngón tay trái đã âm thầm đặt lên bốn sợi dây đàn tỳ bà bên cạnh, giọng nói trầm xuống đầy cảnh giác:

"Tư Què? Sáng qua người của Hình Bộ truyền tin ra nói nhà xác Ty Nghiệm Thi bị nổ tung, ngươi đã bị thiêu thành tro cùng với cái xác của lão chủ tiệm cầm đồ Vạn Lợi rồi cơ mà? Sao ngươi còn sống mà quay về đây?"

Trần Độ (trong khuôn mặt và giọng nói không một kẽ hở của Kép Tư Què) bước lên ba bước, rút từ trong tay áo ra chiếc thẻ bài gỗ trầm hương đính tám hạt vàng và một hạt vàng thứ chín vừa được gắn lại ném lên mặt bàn trang điểm trước mặt Lộng Ngọc, cười gằn một tiếng đầy vẻ oán trách:

"Lộng Ngọc cô nương, hay là ta phải gọi cô là 'Thị Mầu' đại nhân đây? Ta vì đi lấy lại cái hạt vàng có khắc tên cô nằm trong cổ họng lão già tiệm Vạn Lợi mà suýt chút nữa bỏ mạng ở cái nhà xác Hình Bộ đấy! Nếu đêm đó ta không nhanh trí tháo cái chân sắt dự phòng nhét thuốc súng vào đốt xác một thằng ngục tốt khác để giả chết thoát thân, thì hôm nay cô tưởng cô còn ngồi yên ở cái Thủy Đình này mà chải tóc đợi 'Chàng Trương Chi' đến giao sổ được chắc?!"

Nghe "Kép Tư Què" nói toạc ra mật hiệu "Thị Mầu", "Chàng Trương Chi" và chuyện hạt vàng nằm trong cổ họng ông chủ tiệm cầm đồ Vạn Lợi – những bí mật tuyệt mật chỉ có hai người bọn họ biết với nhau – lại nhìn thấy hạt vàng thứ chín trên thẻ bài quả nhiên có vết răng cắn bẹp do ông chủ tiệm Vạn Lợi để lại lúc bị siết cổ, bảy phần nghi ngờ trong mắt Lộng Ngọc lập tức tiêu tan!

Thế nhưng, là một con hồ ly tinh đã lăn lộn giữa ổ tình báo Đông Đô nhiều năm, Lộng Ngọc vẫn giữ lại ba phần cảnh giác cuối cùng. Ả đứng dậy khỏi ghế trang điểm, thân hình mềm mại như rắn nước lướt tới sát trước mặt Trần Độ chỉ cách một bước chân, bàn tay ngọc ngà thơm mùi phấn nhài đưa lên vuốt nhẹ vào vạt áo trước ngực Trần Độ, đôi mắt nhìn thẳng vào mắt hắn, cất giọng lả lơi như tình nhân lâu ngày gặp lại:

"Tư ca đừng giận, thiếp chỉ là lo cho huynh thôi mà... Huynh trốn dưới cống ngầm hai ngày chắc lạnh lắm, trước khi 'Chàng Trương Chi' tới đây vào giờ Hợi, huynh lấy 'nửa mảnh phách tre' mà năm xưa chủ nhân giao cho huynh giữ ra đây ghép với nửa mảnh của thiếp để mở hộp sắt lấy cuốn sổ giao dịch chuẩn bị sẵn đi..."

Trái tim người bình thường nếu nghe câu nói bất ngờ đó chắc chắn sẽ đập lệch một nhịp!

Bởi vì trên người Kép Tư Què lúc bị Trần Độ giết ở nhà xác Hình Bộ hoàn toàn không có "nửa mảnh phách tre" nào cả! Đây là câu hỏi thử探 (thăm dò) cuối cùng của Lộng Ngọc: Hoặc là thực sự có một mảnh phách tre giấu ở đâu đó, hoặc là ả đang cố tình bịa ra "nửa mảnh phách tre" để xem tên Kép Tư Què trước mặt có phải là người khác dịch dung giả mạo hay không!

Khoảng cách giữa hai người lúc này chưa đầy hai thước. Đầu ngón tay phải của Lộng Ngọc đặt trên ngực áo Trần Độ đã ngầm tụ một luồng ám kình tẩm độc Thất Đoạn Hương – chỉ cần Trần Độ ấp úng hoặc trả lời sai một chữ, năm móng tay nhọn hoắt của ả sẽ lập tức đâm thủng lồng ngực hắn!

Thế nhưng, dưới đôi mắt Khán Phá Thiên Khuyết và cái tai nghe thấu nhịp tim của Trần Độ, ngay khi Lộng Ngọc vừa nói ra bốn chữ "nửa mảnh phách tre", hắn đã nghe thấy nhịp máu chảy ở cổ tay trái của ả nhanh hơn bình thường một phần mười nhịp, và ánh mắt của ả vô thức liếc nhẹ một cái cực nhanh về phía bức tranh mỹ nhân thổi tiêu treo ở bức tường phía Tây của căn phòng!

Không có "nửa mảnh phách tre" nào trên người Kép Tư Què cả! Chìa khóa mở két sắt chứa cuốn sổ nằm ngay sau bức tranh kia, và câu nói của Lộng Ngọc hoàn toàn là một cái bẫy ngôn từ để thử lòng!

Không những thế, Trần Độ còn nhận ra: Ngay cả khi Kép Tư Què thật sự có quay về đây đêm nay, sau khi giao dịch xong với "Chàng Trương Chi", con độc phụ Lộng Ngọc này cũng đã định sẵn ý đồ giết Kép Tư Què để diệt khẩu nốt người cuối cùng biết chuyện ông chủ tiệm Vạn Lợi!

Trong một phần mười nhịp thở, Trần Độ không những không lùi lại, mà bàn tay trái của hắn còn ngang nhiên vươn ra bóp mạnh một cái vào chiếc cằm trắng ngần của Lộng Ngọc, ánh mắt dưới lớp mặt nạ Thiên Diện Cao hiện lên vẻ dâm tà và hung tợn giống hệt Kép Tư Què thật sự, cười khẩy nói:

"Con đĩ thối này, mới hai ngày không gặp mà mày đã định đem cái trò 'phách tre' giả tạo ra để thử xem ông đây có bị Nội Mật Viện mua chuộc không đấy à? Chìa khóa mở cái hốc sắt sau bức tranh mỹ nhân đằng kia chẳng phải vẫn giấu trong cái trục đàn tỳ bà bốn dây của mày sao? Hay là mày thấy ông đây bị lộ mặt ở Hình Bộ rồi nên đêm nay định đợi 'Chàng Trương Chi' tới lấy sổ xong là cho ông đây uống canh giải rượu có pha độc giống thằng già Vạn Lợi luôn?!"

Ầm!

Câu nói của Trần Độ như một tia sét đánh trúng ngay tim đen của Lộng Ngọc!

Sắc mặt ả đào nương đầu bảng lập tức trắng bệch đi một thoáng, hoàn toàn tin chắc một trăm phần trăm người đứng trước mặt chính là Kép Tư Què thật sự – bởi ngoài Kép Tư Què đã ngủ với ả suốt ba năm qua ra, trên đời này không có người thứ hai biết cái hốc sắt nằm sau bức tranh mỹ nhân và chìa khóa giấu trong trục đàn tỳ bà của ả!

"Tư... Tư ca nói gì thế, thiếp với huynh là châu chấu trên cùng một sợi dây, thiếp hại huynh làm sao được..."

Lộng Ngọc vội vàng nở nụ cười quyến rũ để che giấu sự chột dạ, xoay người bước về phía chiếc đàn tỳ bà trên bàn: "Đã gần tới giờ Hợi rồi, để thiếp mở hốc tường lấy cuốn sổ gốc ra trước..."

Ả vừa xoay lưng lại, vươn tay vặn nhẹ trục gỗ thứ tư của chiếc đàn tỳ bà trên bàn, rút ra một chiếc chìa khóa đồng nhỏ xíu hình chiếc lá liễu rồi bước tới vén bức tranh mỹ nhân thổi tiêu trên bức tường gỗ phía Tây lên!

Phía sau bức tranh hiện ra một cái két sắt nhỏ đúc liền vào trong cột gỗ lim chính của Thủy Đình.

Cạch... Kẹt!

Lộng Ngọc tra chìa khóa vào ổ, vặn nhẹ ba vòng. Cánh cửa két sắt mở tung ra!

Bên trong két sắt, nằm cạnh một thỏi vàng ròng mười lạng và một chiếc ấn tín nhỏ bằng ngọc xanh, chính là một cuốn sổ bìa da hươu màu nâu sẫm dày bằng đốt ngón tay – cuốn sổ giao dịch gốc ghi rõ tên tuổi thật, chức vụ và chữ ký điểm chỉ của bảy vị quan viên đại thần trong triều và Phủ Chúa đã bán ba mươi vạn cân sắt chiến lược cùng năm mươi thuyền muối cho Bắc Đình Đại Yến!

Đúng vào khoảnh khắc bàn tay của Lộng Ngọc vừa chạm vào gáy cuốn sổ bìa da hươu trong két sắt —

Cộc... Cộc, cộc!

Từ phía ngoài cánh cửa sổ nhìn ra hành lang cầu gỗ phía Bắc của tầng hai Thủy Đình, bỗng vang lên ba tiếng gõ nhẹ vào chấn song cửa sổ!

Cùng lúc đó, từ dưới mặt hồ Thái Hồ phía Bắc và phía Nam của Thủy Đình, hai chiếc đèn lồng một xanh một trắng đột ngột được ai đó thắp sáng trưng trên mũi thuyền, tiếp theo là tiếng còi xương chói tai của Nội Mật Viện xé toạc màn đêm lễ hội!

"Bắt lấy nghịch đảng! Phong tỏa toàn bộ Thủy Đình và Giáo phường Thái Hồ! Không cho một con ruồi nào bay thoát!"

Từ bốn phía mặt hồ mù sương, hàng chục chiếc thuyền sắt của Dạ Tuần Ty do Thiên hộ Chu Hoài An chỉ huy đồng loạt lao ra tông nát những chiếc thuyền hoa cản đường; trong khi từ phía bờ Tây, một bóng trắng cầm đòn gánh tre (Bạch Khanh) cũng đã đạp nước lướt như bay trên mặt hồ lao thẳng về phía tầng hai Thủy Đình!

"Cái gì?! Nội Mật Viện?! Sao chúng lại biết giờ Hợi đêm nay giao sổ ở đây?!"

Lộng Ngọc kinh hoàng thất sắc, vội vàng rút cuốn sổ bìa da hươu và chiếc ấn ngọc từ trong két sắt ra định nhét vào trong ngực áo yếm rồi quay đầu bảo "Kép Tư Què" chặn đường cho ả nhảy qua cửa sổ trốn xuống đáy hồ:

"Tư ca! Mau dùng dây đàn chặn cửa chính lại cho thiếp..."

Ả vừa quay đầu lại, chữ "thiếp" còn đang nằm trên đầu lưỡi —

Thì trước mắt ả, gã "Kép Tư Què" vốn đang đứng cách đó năm bước chân đã xuất hiện ngay sát sau lưng ả từ lúc nào như một bóng ma không tiếng động!

Không có dây đàn đáy nào được rút ra để bảo vệ ả cả.

Chỉ có một cây kim bạc dài ba tấc mỏng như râu tôm từ trong tay áo của Trần Độ đâm thẳng vào huyệt Á Môn sau gáy Lộng Ngọc khiến ả không kịp phát ra lấy một tiếng kêu, đồng thời bàn tay trái của hắn nhẹ nhàng đón lấy cuốn sổ bìa da hươu và chiếc ấn ngọc từ trên tay ả đào nương đang mềm nhũn ngã gục xuống sàn!

Thế nhưng, ngay khi Trần Độ vừa lật nhanh trang đầu tiên của cuốn sổ bìa da hươu dưới ánh đèn lồng để nhìn xem kẻ thứ bảy mang biệt hiệu 《Khuyết Danh – Người Cầm Phách Cái》 đứng đầu đường dây bán nước kia là ai —

Vút —— KENG!!

Một luồng thương kình màu bạc sắc lạnh và bá đạo tuyệt luân của cảnh giới Đệ Tam Cảnh Đỉnh Phong từ dưới chiếc thuyền hoa màu trắng ngoài mặt hồ đột ngột xuyên thủng bức tường gỗ tầng hai của Thủy Đình, đâm thẳng vào bàn tay đang cầm cuốn sổ của Trần Độ; kèm theo đó là giọng nói ôn hòa nho nhã nhưng lạnh thấu xương của Tam Thế tử Tạ Trường Ninh vang lên ngay ngoài cửa sổ:

"Cuốn sổ của người nhà họ Tạ viết ra, Kép Tư Què ngươi cầm hộ bản thế tử lâu thế đủ rồi đấy!"

Dùng phím ← → để chuyển chương

Bình luận chương 10

Chưa có bình luận

Hãy là người đầu tiên nói cảm nhận về chương này.